Lundi 28 décembre 2009 1 28 /12 /Déc /2009 09:27
Lời Giới Thiệu:
Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền là giáo sư về khoa Giải phẫu Tiểu Nhi tại đại học McGill, Montreal, Canada. Tuy là môt chuyên gia bận rộn, nhưng ông là một trong số những ít bác sĩ quan tâm và viết đến những vấn đề đất nước.

 Võ Nguyên Giáp là một thiên tài khốn nạn của quê hương.
Tôi chia sẻ ý kiến này , nhưng chỉ chia sẻ một nửa thôi.

Vâng, Võ Nguyên Giáp thực quả là một tên khốn kiếp, đã đẩy hàng triệu thanh niên đất Việt vào chỗ chết từ năm 1946 tới năm 1975, để thực hiện cho được việc áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản sắt máu trên toàn quê hương. Nhưng Y có là một thiên tài hay không, dù là một thiên tài khốn nạn của quê hương, thì cần phải xét lại. Sau mấy chục năm, các tài liệu về chiến tranh tại Việt Nam, các dữ kiện lịch sử đã được giải mật. "Huyền thoại Võ Nguyên Giáp" đã hết còn là một huyền thoại.

Võ Nguyên Giáp sanh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha Y là Võ Quang Nghiêm, một hương sư dạy chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ và hành nghề Đông Y như phần lớn các nhà nho lỡ vận. Khi cuộc chiến Việt-Pháp bùng nổ, Ông Nghiêm bị Pháp bắt đưa về giam ở Huế rồi chết trong tù. Mẹ Giáp là Bà Nguyễn Thị Kiên.

Võ Nguyên Giáp là con thứ 6 trong số 8 người con của Ông Bà Võ Quang Nghiêm. Năm 14 tuổi (1925), Giáp vào Huế học trường Quốc Học. Hai năm sau, bị đuổi học, Giáp về quê tham gia Tân Việt Cách mệnh Đảng – một đảng có mầu sắc Cộng Sản được thành lập năm 1924 ở miền Trung.

Đầu tháng 10 năm 1930, Giáp bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phú ( Huế ).. Năm 1931, Giáp được thả ra khỏi nhà tù, ra Hà Nội học tại trường Albert Sarraut cho tới khi đỗ Tú tài.

Năm 1937, Giáp tốt nghiệp trường Luật tại Hà Nội.

Năm 1934, Giáp kết hôn cùng Nguyễn Thị Quang Thái, một đồng chí của ông. Bà Thái có với Giáp một người con gái, Võ Thị Hồng Anh. Năm 1943, Bà Thái bị Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Bà chết trong tù.

Tháng 5 năm 1939, Giáp bắt đầu dạy môn Sử tại trường tư thục Thăng Long tại Hà Nội. Theo lời thuật của một số người, Giáp là một giáo sư Sử giỏi và hùng biện.

Từ năm 1936 đến năm 1939, Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân Chủ Đông Dương. Võ Nguyên Giáp vào Đông Dương Cộng Sản đảng vào năm 1940, bắt đầu các hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Giáp tham gia gây dựng cơ sở và huấn luyện quân sự ở Cao Bằng dù Giáp chưa từng được huấn luyện về quân sự.. Trong đảng Cộng Sản Đông Dương, có lẽ chỉ có Phùng Chí Kiên được theo học một thời gian tại trường Võ bị Hoàng Phố ở Trung Hoa.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo sự phân bố của Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 người. Theo tài liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là khởi thủy của đạo quân Cộng Sản Việt Minh sau này.

Tháng 8 năm 1945, Giáp được bầu vào Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương.

Tháng 1 năm 1948, Giáp được Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại Tướng. Cùng được phong Tướng có một số tên như Văn Tiến Dũng, Vương Thừa Vũ, Nguyễn Chí Thanh, Đinh Đức Thiện, Lê Trọng Tấn, Trần Đăng Ninh…
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ kéo dài cho tới năm 1954 và chấm dứt ở trận Điện Biên Phủ.

Trên :Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Quang Thuận, Hoàng Đăng Minh, Nhận, Bạch Ngọc Giáp, Sáng ---
Dưới: Lê Liêm, Giáp, Hồ, Trường Chinh, Đặng Việt

Từ năm 1945 cho đến năm 1991( năm Giáp nghỉ hưu, hết còn là ủy Viên Trung Ương Đảng) Giáp đã giữ những chức vụ như sau:
- Ủy Viên Bộ Chánh trị
- Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng
- Tổng Tư lệnh Quân Đội
- Phó Thủ Tướng
- Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa học nhà nước.
- Năm 1983, Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch.
Chức vụ Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội là những chức vụ Giáp ở lâu nhất, từ năm 1945 đến năm 1980.
Chức vụ coi về sanh đẻ năm 1983 là môt hình thức hạ nhục Giáp do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ trương. Để nói về việc hạ nhục này, trong dân gian có truyền tụng hai câu thơ diễu cợt đượm đầy mỉa mai:
Ngày xưa Đại tướng cầm quân
Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em

Sau trận Điện Biên Phủ năm 1954, sự hiện diện của người Pháp cáo chung, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng như cồn. Sau cái gọi là Đại thắng mùa xuân năm 1975 – một may mắn bất ngờ cho đảng Cộng Sản Việt Nam ( một bất hạnh cho dân tộc Việt ) chiếm được miền Nam – trước mắt người ngoại quốc mù tịt về cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp trở thành một huyền thoại.
Một số sách viết về Giáp như:
- General Giáp: Politician and Strategist của Robert j. O'Neil (Australia)
- Giáp: the Victor in Vietnam của Thiếu tướng hồi hưu Peter McDonald In năm 1993 ( British )
- Các bài viết rải rác của Douglas Pike thuộc University of California, Berkeley (USA)
Xin mở một dấu ngoặc ở đây về các sách viết về các lãnh tụ Công Sản Việt Nam cũng như các lãnh tụ của các nước Cộng Sản khác trên thế giới. Tác giả phải được sự chấp nhận của Bộ Chính trị và chỉ được viết những gì mà cơ quan quyền lực tối cao của Cộng Sản đưa ra mà thôi.
Giáp được các tác giả ca tụng như một thiên tài quân sự, một chiến lược gia tài tình của thế giới ( genius strategist, geniusgeneral of the world ). Từ mấy năm gần đây, các tài liệu mật về 2 cuộc chiến tại Việt Nam (1946-1954 và 1954-1975 ) được giải mật khiến ta thấy rằng "thiên tài Võ Nguyên Giáp" đã được các đồng chí nặn ra như các đồng chí đã nặn ra anh hùng Lê Văn Tám, chú Kim Đồng…..trong suốt chiều dài của cuộc chiến xâm nhập của chủ nghĩa Cộng Sản man rợ lên quê hương mà đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một lũ thừa sai.
Bản chất của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ Hồ Chí Minh trở xuống, là gian hùng, dối trá, thâm độc và tàn bạo. Giáp có đầy đủ các "đức tính" đó.
Năm 1946, Hồ Chí Minh ký hòa ước với Pháp để quân Pháp trở lại Việt Nam. Các lãnh tụ Công Sản, trong đó có Giáp, đã thẳng tay tiêu diệt các người quốc gia (Losers are Pirates by James Banerian1984, p.69)
Năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp sắp xẩy ra, Giáp là Bộ Trưởng Quốc phòng trong Chánh phủ liên hiệp. Tại Hà Nội, trong khi quân Pháp và Tự Vệ Thành đang gầm ghè nhau, Giáp và đồng bọn hứa hẹn là quân chánh qui của họ tức các đơn vị Vệ Quốc Đoàn tinh nhuệ đã kéo về đóng chung quanh Hà Nội, sẵn sàng làm cỏ quân Pháp.
Ngày 19 tháng 12, chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Nhóm lãnh đạo Cộng Sản đã rút về Hà Đông từ mấy ngày trước. Vệ Quốc Đoàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy các Tự Vệ Thành đánh vùi với quân Pháp trong các đường phố Hà Nội. Họ đã cầm cự với quân Pháp trong gần 2 tháng, thời gian đủ để dân chúng rời thành phố lánh nạn, đủ để đám Cộng Sản rút vào các an toàn khu Việt Bắc. Giáp và đồng bọn muốn mượn tay quân Pháp để thủ tiêu các thanh niên Hà Nội. Quả thực, Tự Vệ Thành là những thanh niên tiểu tư sản, phần lớn xuất thân từ các gia đình khá giả. Đám tiểu tư sản này là những thành phần không có chỗ đứng trong chế độ Cộng Sản. Càng lợi cho việc thiết lập chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam nếu họ bị Pháp tiêu diệt, bớt đi càng nhiều càng tốt cho chủ nghĩa Mac Xít Léninist dễ phát triển ở Việt Nam.
Giáp đã viết sách về chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân (được dịch ra tiếng Pháp; Guerre du peuple, l'Armée du peuple ), tự cho rằng mình và đảng Cộng Sản Việt Nam là nguồn gốc của quan niệm chiến lược, chiến thuật này.
Sự thực, quan niệm về chiến tranh nhân dân đã được Tướng Trần Canh, một trong ngũ hổ tướng của Mao Trạch Đông, du nhập vào Việt Nam kể từ trận chiến biên giới Cao Bằng Lạng Sơn năm 1950.
Giáp thực sự không phải là cha đẻ của quân đội Cộng Sản Việt Nam, tuy rằng cuối năm 1944, theo lệnh Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đoàn Võ Trang tuyên truyền gồm 34 thành viên với trang bị rất thô sơ. Quân đội Trung Cộng mới thực sự là cha đẻ của quân đội nhân dân của Cộng Sản Việt Nam.
Tháng 3 năm 1946, 1 Trung Đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa tràn qua biên giới, vào Việt Nam để tránh bị các Lộ Quân 46, 64 của Tưởng Giới Thạch tiêu diệt. Chính Trung đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa này đã giúp Cộng Sản Việt Nam huấn luyện Quân đội. Tình báo của Mỹ đã đánh hơi thấy việc Trung Cộng huấn luyện quân đội Cộng sản Việt Nam từ những năm này.
Từ năm 1950, Trung Cộng không ngừng cung cấp người, võ khí và tiếp liệu cho Công Sản Việt Nam. Chính Võ Nguyên Giáp, trong cuốn Đường tới Điện Biên Phủ đã viết: Trong một buổi làm việc ở Moscou với Staline, Mao Trạch Đông, Mao đã hứa trang bị cho Việt Nam 10 sư đoàn. Mao nói: Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn (sư đoàn) để đánh Pháp. Trước mặt hãy trang bị 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc Việt Nam. Có thể đưa ngay một số đơn vị sang Trung Hoa nhận vũ khí. Tỉnh Quảng Tây sẽ
lả hậu phương trực tiếp của Việt Nam. Sau đó các đơn vị của quân đội nhân dân lần lượt được đưa sang Tầu để thụ huấn và nhận vũ khí.

Theo Giáp: những đơn vị sang Trung Quốc, ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật công kiên, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá. Trước đây, vì chưa có thuốc nổ, ta chưa hề xử dũng kỹ thuật này.
Cũng theo Giáp, chính Hồ Chí Minh đã yêu cầu Tầu Cộng gửi qua Việt Nam một đoàn cố vấn. Theo lời yêu cầu đó, một đoàn cố vấn Trung Cộng khoảng 80 người đã sang Việt Nam, giúp quân Cộng Sản Việt Nam: Lã Quí Ba, Ủy Viên Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc, Trưởng đoàn Cố vấn; Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn Cố vấn về Quân sự: Mai Gia Sinh, cố vấn về công tác tham mưu; Mã Tây Phu, Cố vấn về công tác hậu cần. Chính các Cố vấn Trung Cộng đã giúp Công Sản Việt Nam tổ chức 3 (ba) cơ chế chánh trong quân đội: Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục chánh trị và Tổng cục hậu cần. Tóm lại ngay trong công việc tổ chức quân đội của Cộng Sản Việt Namm, Giáp chỉ là người thừa hành.

Giáp là một tên hèn.

Năm 1983, Giáp bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn hạ nhục bằng cách cho đi làm Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch. Giáp đã ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn vâng lời. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm xẩy ra tại miền Bắc năm 1955, nhiều người đã ở trong Quân Đội Nhân dân của Giáp như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán…bị đem ra đấu tố, tù đầy. Giáp vẫn giữ im lặng. Trong vụ án chống đảng do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ mưu, các tướng Cộng sản đàn em của Giáp như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh, các Đại tá thuộc cấp của Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Văn Dzoãn… bị hãm hại; Giáp vẫn ngoảnh mặt làm ngơ.. Khi các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái (cũng là thông gia của Giáp) bị đột tử sau khi miền Nam đã bị cộng sản hóa. Giáp vẫn ngậm miệng, im lặng là vàng. Giáp đã để lộ rõ cái hèn, thủ khẩu như bình.
Giáp kệ mặc đàn em bị thảm sát, tù đày. Theo Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập của báo Cộng Sản Quân Đội Nhân dân, sở dĩ Giáp không bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn thủ tiêu vì Giáp biết thủ nghĩa là Giáp biết cách tránh né để bảo toàn mạng sống.
Khi được một ký giả ngoại quốc hỏi Giáp có hối tiếc gì về số 3-4 triệu người Việt Nam chết vì các cuộc chiến tranh, gọi là chiến tranh ý thức hệ, Giáp đã trả lời là y không hối tiêc gì cả (Non, pas du tout).
Mạng sống của thanh niên Việt Nam bị họ Võ coi như cỏ rác. Giáp sẵn sàng thí quân trong các trận chiến. Trong trận chiến tranh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, để tiêu diệt cứ điểm Đồng Khê do 262 lính Pháp trấn đóng, Giáp đã dùng tới 10.000 quân (đông hơn quân trú phòng 40 lần). Sau trận đánh, hơn 500 quân Việt tử trận, không kể số bị thương hàng ngàn. Trong trận đồng bằng Phủ Lý, Ninh Bình, Vĩnh Yên vào tháng giêng năm 1951, chiến thuật biển người của Giáp đã bị Tướng Pháp De Lattre de Tassigny dùng bom Napalm tiêu diệt. Quân Cộng sản, dưới sự chỉ huy của Giáp, đã bị nhiều tử vong, thất bại trong ý đồ đưa chiến tranh về đồng bằng. Số tử vong của quânđội cộng sản, khi tháo lui, là trên 6000 người. Số bị thương chắc chắn là gấp đôi, gấp ba con số 6000.
Trong chiến tranh Việt – Pháp 1946-1954, người thực sự chỉ huy các trận đánh lớn không phải là Giáp mà là các tướng Trung Hoa Cộng Sản như Trần Canh trong những năm 50, sau đó là đoàn cố vấn Trung Quốc đứng đầu là Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba. Hào quang chiến thắng của Giáp chỉ là một giả tạo, một hào quang do Trung Cộng ban cho.
Chiến dịch biên giới năm 1950.
Chiến dịch này nhằm mục đích đuổi quân Pháp ra khỏi biên giới của 2 nước Việt Nam-Trung Hoa để cho việc tiếp vận từ Trung Hoa Cộng Sản cho quân đội của Cộng Sản Việt Nam được dễ dàng. Tướng Trần Canh của Trung quốc sang Việt Nam ngày 22-7-1950. Trần Canh đã áp dụng học thuyết chiến tranh nhân dân của Mao vào chiến tranh Việt Nam.
Kế hoạch tiến công của Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới được thay thế bằng kế hoạch tác chiến của Trần Canh. Thay vì tấn công Cao Bằng như kế hoạch của Giáp, Trần Canh đề nghị kế hoạch tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó phục kích tiêu diệt (công đồn đả viện). Hồ Chí Minh chấp thuận kế hoạch này. Kết quả trận đánh là quân Pháp thảm bại phải bỏ hết các tỉnh biên giới. Chiến thuật công đồn đả viện của Cộng Sản Việt Nam là do các cố vấn Trung Quốc, nhứt là Trần Canh, truyền thụ cho.
Từ năm 1951, nhóm cố vấn chánh trị do Lã Quí Ba cầm đầu đã giúp Hồ tạo lập luật lệ và chánh sách liên quan đến tài chánh, thuế khóa, quản lý báo chí và đài phátthanh cũng như các chánh sách đối với các dân tộc thiểu số…..
Chiến dịch Tây Bắc 1952
Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng Hà năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của các cố vấn Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Lã Quí Ba trách nhiệm hoạch định chiến dịch thay Vi Quốc Thanh về Tầu chữa bệnh. Hồ Chí Minh chấp thuận hoàn toàn đề nghị của Lã Quí Ba. Theo Qiang Zhai (China and the Vietnam wars 1950-1975) cuối tháng 9 năm 1952, Hồ bí mật sang BắcKinh để thảo luận về chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược thắng quân Pháp.
Ngày 14-10 Việt Minh tập trung 8 tiểu đoàn tấn công Nghĩa Lộ và các đồn bót lân cận.
Ngày 16-10 Vy Quốc Thanh trở lại Việt Nam để cùng Lã Quí Ba chỉ đạo chiến dịch. Sau khi mất Nghĩa Lộ, quân Pháp chạy khỏi Sơn La ngày 21-11. Việt Minh hoàn toàn chiếm lĩnh một khu vực lớn ở Tây Bắc, cho phép họ có thể tiến hành các hoạt động ở Lào.
Đối phó với kế hoạch Navarre – Trận Điện Biên Phủ
Tháng 5-1953, tướng Henri Navarre đảm trách chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương với kế hoạch:
1- Kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng
2- Bình định các khu do Cộng Sản kiểm soát ở miền Trung và miền Nam
3- Mở tổng phản kích tiêu diệt các cứ địa của Việt Minh tại miền Bắc
Navarre cho thành lập các binh đoàn lưu động.
Việt Minh Cộng Sản, lúc đầu muốn tập trung quân tại vùng Tây Bắc và Lai Châu, nhưng sau Giáp từ bỏ ý định đó, muốn kéo quân tấn công quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng Hà. Như vậy Giáp hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. Bắc Kinh không đồng ý với kế hoạch của Giáp. Bắc Kinh nhấn mạnh Việt Minh cần giữ nguyên kế hoạch tập trung vào Tây Bắc và Lào. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh Cộng Sản có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương.
Tháng 9, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam, phủ quyết kế hoạch của Giáp để theo kế hoạch của các cố vấn Tầu.
Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Vy Quốc Thanh trao cho ông Hồ một bản sao kế hoạch của Navarre mà tình báo Trung Cộng đã thu đoạt được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo của Cộng sản Việt Nam nói đề nghị của Trung Quốc là đúng. Cộng Sản Việt Nam, nếu theo đúng kế hoạch của Trung Quốc, có thể phá vỡ kế hoạch của Navarre.
Khi Navarre đưa quân đến Điện Biên Phủ, Giáp và Bộ Tham mưu chưa nhận ra tầm quan trọng của vị trí này. Chính Vy Quốc Thanh là người đã thúc Giáp mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự mà còn có ảnh hưởng quốc tế.
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam thông qua kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ. Giáp chỉ là người thi hành kế hoạch do cố vấn Trung Quốc Vy Quốc Thanh đề ra. Người hùng Điện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp đã được cố vấn Tầu nặn ra.
Chính các cố vấn Trung Cộng đã giúp Việt Minh trong các chiến dịch biên giới, Tây Bắc và Điện Biên Phủ. Trung Cộng đã chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ 8286 tấn tiếp liệu gồm võ khí, lương thực v.v… Cố vấn TC có mặt ở mọi đơn vị. Thí dụ họ đã giúp Việt Minh bố trí pháo binh trong các hào sâu trên sườn núi để tránh bị phi cơ Pháp phát hiện và phá hủy. Pháo binh của Việt Minh, được các cố vấn Trung Cộng điều khiển, là một bất ngờ cho quân đội Pháp. Nhưng sự tham dự tích cực của Trung Cộng vào sự thành công của chiến dịch không hề được Giáp nhắc tới trong các bài viết, trong các sách của y như cuốn Điện Biên Phủ: điểm hẹn lịch sử. (The Chinese support for the North Vietnam during the Vietnam War; The Decisive Edge by Bob Seals).
Sự giúp đỡ của Trung Cộng không ngừng ở chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân. Sự giúp đỡ vẫn được tiếp tục trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam 1954-1975.

Sám hối ?

Thay lời kết:
Người hùng Võ Nguyên Giáp, tướng huyền thoại của Cộng Sản Việt Nam chỉ là một nhân vật đại bịp trong số hàng trăm hàng ngàn tên bịp bợm (trong đó có cả tên Hồ), trong quá trình hiện hữu của đảng Cộng Sản Việt Nam. Y không phải là một thiên tài quân sự như đảng Cộng Sản Việt Nam thổi phồng.
Chính các cố vấn Trung Cộng do Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba cầm đầu đã đánh thắng quân Pháp trong cuộc chiến 1946-1954 chứ không phải là Giáp. Hào quang của Giáp là do Trung Cộng nặn ra, treo vào cổ Giáp. Sự thực các trận đánh lớn, có tính cách quyết định đều do các cố vấn Tầu Cộng thiết kê và điều khiển.
Giáp đã sống trong cái vỏ thiên tài đó trong hơn nửa thế kỷ. Đến nay thì sự thực đã được phơi bầy:
Trong suốt hai cuộc chiến 1946-1954, 1954-1975, Giáp và đảng Cộng Sản Việt Nam đã dựa vào Trung Cộng gần như toàn diện. Nay họ đã và đang trả món nợ đó, trả bằng cả số phận của dân Việt, bằng cả đất nước do tổ tiên để lại: quê hương đang mất dần vào tay người Trung hoa Cộng sản.

Bs. Nguyễn Lương Tuyền
 
 
 
 

 
Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 3 commentaires
Vendredi 25 septembre 2009 5 25 /09 /Sep /2009 08:36



THƠ KIM THÀNH

1.DEM SAO *
2.NGOI TIEC NGAN NGO
3.BONG MOT HOM
4.CAM TA TINH ANH
5.EM DA TRO LAI PARIS
6.MAT ANH EM LAM THO - NHAC BAN
7.EM O BEN KIA XA THAT XA
8.IN DAU MOT DOI
9. NHO NGHE EM
10.LO MAI NAY
11.NGHE DOI BUON HIU
12.TRAI TIM CHI
13.GIOT TINH SAU
14.ANH VOI DE MOT VAN THO DAU DO
15.DAO DUA HOANG
16.MOT COI CHAP CHUNG
17.SINH NHAT EM
18.CHANG THE DUNG DUNG
19.NGAN THUONG CACH TRO
20.EM DA NOI VOI ANH
21.TOI NHO TRUONG XUA
22.TINH CUOI CHAN MAY
23.SAO LAI KHOC HOI EM YEU DAU
24.BAI THO BUON CHO EM BE IRAN
25.CO NHUNG SOI TINH
26.BUON TRON TRONG THO
27.HANH PHUC CON DAY
28.VAN TRONG TOI
29.BUON VUI MUA NANG
30.NGHE HON BAY BONG
31.TA CHU VAN DOI
32.THANG BAY MUA NGAU
33.CO PHAI LA THU
34.HINH NHU
35.YEU THUONG
36.HONG TINH
37.NGONG CHO
38.TRANG VA TOI
39.TOC RUNG



THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ


Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Mercredi 23 septembre 2009 3 23 /09 /Sep /2009 08:51

Paris-Aujourd'hui -Mar.22 Sept.2009

 



PPS
THI TẬP  BẾN ĐỢI
KIM THÀNH - PHÚ SĨ - MỘC THIÊNG THỰC HIỆN


   

NHƯ CÁNH VẠC BAY
 
 


CHUYẾN TÀU CUỐI


Xa tàu rồi buồn vương vương tóc trắng
Nhớ mênh mang con sóng vỗ mạn thuyền
Tấm Hải đồ chợt sáng trưng trong nắng
Hải âu bay tưởng suối tóc em mềm


Tàu thả neo lặng im nằm mơ mộng
Nghe thì thầm như tiếng mẹ ru con
Ta với tàu cả một đời giao động
Giờ tàu đi , ta côi cút mõi mòn


Tàu nhấp nhô cho lòng thêm đau đớn
Hồn chơi vơi theo tiếng máy rì rầm
Biển dỗi hờn theo em vào tuổi lớn
Đợt sóng ngầm ray rức mối tình câm


Cuối Hải trình mơ thấy mình hoá thạch
Như Tượng nàng trông đợi bóng tình quân
Tàu đi xa nhẫn tâm không quay lại
Nhớ biển nhớ thuyền nước mắt rưng rưng


Con dã tràng xe từng viên cát  nhỏ
Anh mơ màng đếm từng ngày ... ngày qua
Trong nuối tiếc dường như mình trẻ lại
Theo con tàu phiêu bạt khắp miền xa


tôn thất phú sĩ
 

CÓ MỘT LẦN

Có một lần chia tay đành đoạn
Môi miệng cười tim lại nhói đau
Con dốc đứng ngăn chi hai ngả
Vẫy tay chào nghe đã nhớ nhau

Em bước đi bóng mờ che khuất
Anh cúi nhìn lưu luyến bàn tay
Mây trên cao bỗng khóc vỡ bờ
Mưa ướt đẩm đôi vai bé nhỏ

Này em hỡi xin quay mặt lại
Cho anh nhìn nét ngọc trong thơ
Cho anh mơ sẽ có một ngày
Em mãi mãi cuồng si trọn kiếp

Hãy nói đi em mau cho kịp
Dẫu chiêm bao nước mắt chảy dài
Dẫu gót hài dẫm nát hồn anh
Trên đau khổ phút giây tận thế

Anh không thể, em ơi không thể
Nhắm mắt nhìn bóng tối trùng vây
Tóc em gầy là dây tơ buộc
Tháng ngày anh còn lại nơi nầy

Anh sẽ thổi bay đi mộng ảo
Nhốt mặt trời rạng rỡ trong thơ
Cho trăn trở đi vào quên lãng
Ru tình anh một thuở đi tìm... 

Kim Thành
May 2007



 

NHAC CHON LOC

 



Sư ông Thích Nhất Hạnh: Đạo và Đời
Click nghe âm thanh




Thiền Sư Nhất Hạnh: Vòng Đời Luẩn Quẩn

Diệu Tiên

Cuộc đời là một vòng luẩn quẩn. Luật “luân hồi nhân quả” của nhà Phật, nghe thì cao vời vợi nhưng nhiều khi “quả báo nhãn tiền” cũng chẳng bao xa.
 Thầy Thích Nhất Hạnh sinh ra ở miền Trung và lớn lên bằng cơm gạo của miền Nam Cộng Hòa. Trong trưởng thành, thầy được chế độ Cộng Hòa ưu đãi nhiều hơn ai khác. Ở tuổi 30, trong khi bao nhiêu thanh niên cùng trang lứa với thầy đang trèo đèo, lội suối, vào sinh ra tử nơi địa đầu chiến tuyến, thì thày ung dung tự tại trau dồi kiến thức ở Đai Học Văn Khoa.
 Khi tốt nghiệp, thầy , được học bổng qua Mỹ du học tại một trường danh tiếng. Trong thời chiến, đi du học bên Hoa Kỳ không phải là chuyện dễ. Có lẽ, có một bàn tay nào đó đã nâng đỡ cho thày?
 Về nước năm 1964, dạy ở Đại Học Vạn Hạnh một thời gian, để rồi lại xuất ngoại vào năm 1966, Lần này, chuyến Mỹ du của thày có mục đích để phổ biến những tư tưởng phản chiến trong dư luận quốc tế. Với bộ áo của nhà tu hành, với trình độ của một sinh viên tốt nghiệp Đại Học Princeton, thày mau chóng tạo được uy tín với người ngoại quốc. Thày đi nói chuyện khắp nơi, lớn tiếng kết tội VNCH là hiếu chiến. Thầy nói: “Tôi ra đi để nói rõ là dân VN không muốn đánh nhau nữa, chỉ muốn ngồi xuống thương thuyết với nhau để đi tới một giải pháp hòa bình, và các cường quốc trên thế giới đừng dùng VN làm một chỗ để tranh dành ảnh hưởng nữa, đừng xử dụng ý thức hệ cũng như bom đạn trên đất nước nhỏ bé này…”
 Ngày 2/6/66, thày tố cáo trước Thượng Viện Hoa Kỳ là Mỹ và VNCH: nguyên nhân gây ra thảm họa chiến tranh tại VN, đã bị nhân dân trong nước hết sức bất mãn và chống đối mạnh mẽ.
 Tôị nghiệp cho chính thể VNCH, đã đặt biết bao kỳ vọng vào người “con yêu của đất nước” gửi đi du học. Người con yêu này, thay vì đem hết kiến thức thu nhận được, trở về phục vụ cho đất nước, cho đồng bào thì lại “gậy ông đập lưng ông”, dùng dao “đâm sau lưng chiến sĩ.” Lẽ dĩ nhiên, chính phủ VNCH không thể “nuôi ong tay áo”, “nuôi khỉ dòm nhà” được, nên đành phải cấm cửa đứa con “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” này trở về nơi quê cha đất tổ.
 Không biết thầy lấy danh nghĩa gì mà phát biểu thay cho dân VN. Dân miền Nam khao khát hòa bình, nhưng phải là hòa bình đem lại độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc, chứ không phải là loại hoà bình dung túng cho chế độ VC độc tài, thối nát, tay sai ngoại bang.
 Sau khi hòa bình đã vãn hồi trên đất nước thày NH không trở về VN. Thày ở lại Pháp xây dựng sự nghiệp, đồng thời cũng tiếp tục trải tư tưởng thiên cộng trong các tác phẩm của thày “Hoa Sen trong biển lửa, môt đề nghị hòa bình của Phật Giáo” lên án chính phủ VNCH và Hoa Kỳ đàn áp Phật Giáo, gây cảnh tang tóc cho nhân dân miền Nam, và đề cao chính nghĩa cũng như lòng yêu nước của MTGPMN. Thày cũng không quên nhấn mạnh: “Trong đầu óc của người VN nói chung, HCM là vị anh hùng dân tôc lãnh đạo cuộc đấu tranh chống Pháp.”
 Thày Thiền Sư Nhất Hạnh không trở về VN, thì tháng 1/2006, nhà nước gửi TT Thích Đức Nghi sang Làng Mai tu tập. Thày Thích Đức Nghi nhờ cư xử khôn khéo, biết làm vừa lòng sư phụ nên đã trở thành đệ tử tâm đắc của thày TNH. TT Thích Đức Nghi được giới thiệu sang thiền viện Lộc Uyển bên Hoa Kỳ để quyên tiền về xây dựng Thiền Viện Bát Nhã ở Lâm Đồng.
 Theo lời mời của chính quyền Hà Nôi, ngày 1/12/05, Thiền Sư Nhất Hạnh đem 100 tăng sinh Làng Mai về VN. TS được đón tiếp trọng thể với một đội ngũ tăng ni đông đảo, có tán vàng che đầu, có hoa thơm rắc lối đi. TT Thích Đức Nghi ngỏ ý muốn cúng dường tu viện Bát Nhã cho TNH để làm nơi cho các tăng sinh tu tập.
 Trong thời gian 3 tháng lưu lại VN, TNH đi thuyết pháp nhiều nơi và tổ chức trai đàn, cầu siêu cho các vong linh đã nằm xuống trong thời kỳ chiến tranh. TS cũng được chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết tiếp kiến tại Phủ Chủ Tịch vào tháng 5/2007.
 Ngày 10/29/08, trưởng ban Tôn Giáo chính phủ tố cáo Tăng ni Làng Mai vi phạm Luật pháp VN và ít ngày sau đó, công an Lâm Đồng cưỡng bách trục xuất 400 đệ tử tu học Pháp môn Làng Mai ra khỏi Thiền viện Bát Nhã.
 Có lẽ để xoa dịu dư luận, một phiên họp Phật giáo bất thường được tổ chức tại Saigon, không có mặt của đại diện Làng Mai, đã đưa quyết định mới: mọi người có thể tiếp tục tu học, ai chưa có đủ giấy tờ, cần bổ túc, ai quậy phá, sẽ bị xử lý. Về tài sản, thì 2 bên (Làng Mai và Bát Nhã) có thể tự giải quyết, hay nhờ pháp luật).
 Ngày 27, 28, 29 tháng 6 năm 2009, 200 thanh niên thuộc xã hội đen tới Thiền Viện Bát Nhã đâp phá đồ đạc, vứt bỏ đồ ăn, cúp điện nước, khóa hết cửa ra vào. Mọi sự hỗ trợ bên ngoài đều vô vọng vì con đường độc đạo từ Bảo Lộc vào Bát Nhã đều có đám thanh niên tụ tập để kiểm tra.
 Tin tức chính thức từ Bát Nhã Tu Viện gửi đi lên mạng toàn cầu kêu cứu. TT Thích Đức Nghi cũng lên tiếng yêu cầu mọi tăng ni và tăng sinh dời khỏi Tu viện Bát Nhã.
 Chắc Thiền Sư Thiền Sư Nhất Hạnh cũng biết rõ là ai đã làm ra những chuyện này?. Những đê tử của thầy có nhiều người lớn tuổi bán nhà bán cửa ở Mỹ để đi về dưỡng già theo lời đường mật của thầy bây giờ không biết làm sao. Ra ngoại quốc trở lại thì nhà bán rồi, còn chỗ nào khác ngoài cách vào “nhà già” sống? Ở trong nước thì tá túc vào chỗ nào? Còn riêng cá nhân thầy tuy có bị VC và sư Thích Đức Nghi lât lọng làm cho hư bột hư đường mọi sự thì cũng đừng buồn. Bởi vì sự việc VC đối xử với thày hôm nay cũng giống như những gì thày đã đối xử với VNCH trước kia.
 Là người có đọc sách Phật, chắc thầy cũng nhìn thấy “Luật nhân quả” và “quả báo nhãn tiền”. Còn nếu thày chưa nhìn rỏ thì:  Nam mô a di đà Phật, xin ngài khai thông huệ nhãn cho thầy.

Diệu Tiên

NHỚ CHÙA XƯA
Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Samedi 19 septembre 2009 6 19 /09 /Sep /2009 23:03


 


MÙA THU CỦA CHỊ

 
Chị ơi chị !
Mùa thu đang vội đến
Tháng chín về trời trở gió se da
Hàng cây dại ven con đường dốc đứng

Cũng trở mình theo nắng hạ ra đi
Nhìn lá thu rơi lìa cành tức tưởi
Chắc chị nhiều tâm sự gửi về anh
Có phải chị đang thấy
Mây trời vương mái tóc
Mây bồng bềnh theo bước chị lang thang
Có phải chị đang mơ
Đôi mắt anh thật hiền
Ngồi kể chuyện trăm năm
Như trong chuyện thần tiên cổ tích

Anh về đây
Giữa thu vàng ngây ngất
Vòng tay ấm đưa nỗi buồn bay mất
Chị không còn ngồi khóc
Bởi bầu trời có muôn vạn ánh sao
Chị đã đọc được
Trên vầng trán anh
Vầng trán thông minh mà độ lượng
Chuyện tình xưa
Một sáng mùa xuân rực rỡ
Có mắt cười thay những nụ hôn


" Anh ơi anh !

Xin anh hãy dìu em
Đến chân trời dịu mát
Nơi anh và em
Đã một lần ngồi hát
Bài hát ngày nào hai đứa yêu nhau
Hãy dìu em đi
Trên những con đường xưa hoa mộng cũ
Những con đường thuở đó lá me bay
Con đường đến giảng đường đại học
Quấn quít chân mềm áo lụa Thần Kinh
Con đường dẫn mình
Đến cầu Trường Tiền mười hai nhịp
Mà nhịp nào cũng một cõi riêng ta

Xin anh hãy kể em nghe
Kỷ niệm năm nào
Rộn ràng sân khấu sinh viên
Dưới ánh đèn lung linh mờ ảo
Em đóng vai nữ hoàng sầu não
Bên tình yêu điên đảo Ngô Phù Sai
Sông Hồ Phạm Lãi
Hay Bến Nước Ngũ Bồ áo chéo chân quê "


Hôm nay
Mùa thu lại đến
Chị một mình bên mộ vắng đìu hiu
Ôn ngày tháng cũ
Thương mối tình thơ
Lòng nhớ khôn nguôi anh đi biền biệt
Hồn chị trôi dài theo sóng nước mông mênh


Tình thu sầu !
Tình thu sầu thấm vào lòng đất lạnh
Qua âm vang từ tiếc thương vọng lại
Anh nhận ra
Tiếng chị thì thầm
Chẳng bao giờ chị hết yêu anh


Tôn Thất Phú Sĩ
Paris ngày vào thu
24 Sept 2005
BẢO CƯỜNG DIỄN NGÂM 

 

 



Buồn Vui Tuổi Hạc
Khôi An

    Tác giả đến Hoa Kỳ năm 1984, hiện là cư dân Bắc California. Nghề nghiệp: kỹ sư điện tử tại công ty Intel. Viết về nước Mỹ năm thứ chín, cô đã nhận giải danh dự với bài viết “Tình Nghĩa, Nghĩa Tình” tự sự của một thuyền nhân, kể về chuyến tầu vượt biển bị hải tặc săn đuổi suốt đêm và vào lúc tả tơi cùng quẫn chạy hết  nổi thì  thấy lá cờ Mỹ và được cứu sống. Sau đây là bài viết mới nhất.
***
Lời mở đầu: Quan niệm rằng người lớn tuổi ở Hoa Kỳ sẽ rất buồn là một quan niệm khá phổ biến. Hội nhập vào một xã hội mới là chuyện không dễ dàng và cần thời gian, nhất là đối với những bậc cao niên. Tuy nhiên, như hầu hết mọi chuyện khác, đời sống của quý cụ, quý ông bà ở Hoa Kỳ có buồn, có vui, có thất vọng và có thành tựu. Trong bài này, người viết chỉ xin ghi lại vài nét từ những cuộc đời thật của vài vị cao niên đang sống tại Hoa Kỳ. Vì chuyện buồn cuả ngươì lớn tuổi trên đất Mỹ đã đuợc nói đến rất nhiều, người viết bài này xin nghiêng một chút đến những chuyện đáng vui. Kính tặng quí vị cao niên đang sống và sắp sống ở Hoa Kỳ. Mong rằng bài này sẽ đem lại chút tin yêu và hy vọng, hoặc ít nhất cũng đem đến quý vị chút giải trí nhẹ nhàng...
***
Bà Lan chờ cho chiếc xe cuả con gái lùi ra và cánh cưả garage xập hẳn xuống rồi mới quay vào. Sáng nào bà cũng dậy sớm nên đến khi con gái và con rể chào ông bà đi làm thì bà đã ăn điểm tâm xong. Xếp lại mấy cái gối trên ghế salon cho ngay ngắn rồi bà bước đến ngồi ở chiếc bàn ăn trong bếp, nơi ông Vinh đang vưà nhấm nháp cà phê vưà xem báo...
Tiếng chân chạy xuống cầu thang làm bà mỉm cười. Con bé Hạnh và thằng bé Khoa thật đúng giờ, ngày nào cũng khoảng 8 giờ sáng là chúng tỉnh giấc chạy xuống. Chỉ vài phút sau hai đứa đã ngồi tại bàn với hai tô cốm và hai ly sữa. Ngồi chưa yên, con bé đã hỏi:
- Ông ơi, sao ngày nào ông cũng đọc báo vậy?
Ông Vinh trả lời
- Ông đọc báo cho biết tin tức, con ạ.
- Tại sao ông thích biết tin tức hả ông?
     Thế là hai ông cháu lại bắt đầu "đàm luận" như thường ngày. Đúng là con gái thường khôn sớm, con bé mới bốn tuổi mà lanh lẹ và nói chuyện đâu ra đó cho nên nhiều khi các dì gọi nó là "bà cụ non". Chẳng biết vì hai đứa may mắn được thông minh hay vì ông Vinh hay chuyện trò với chúng từ lúc mới vài tháng tuổi mà cả hai đều biết đối đáp như người lớn, làm nhiều lúc cả nhà phải phì cười.
    Ngày ông bà tới Mỹ bé Hạnh còn trong bụng mẹ. Hồi đó, nghe tin được sang đoàn tụ với con, ông bà rất vui. Tuy nhiên, cũng có lúc ông bà lo lắng khi nghe ngươì ta nói rằng người già sang đó bất đồng ngôn ngữ, không hợp khí hậu, con cái đi làm cả ngày nên rất buồn và cô đơn. Cũng may ông bà ở tại California khí hậu ấm áp, trong lành, sống với con rể và con gái cũng hoà thuận, êm đềm. Tuy vậy buổi đầu hội nhập vào đời sống mới cũng không phải dễ dàng, nhất là đối với bà Lan. Đời sống bên đây sao mà nhiều máy móc, nội chỉ trong phòng bếp nhỏ đã có tới năm, sáu loại máy khác nhau; nào là lò nướng bánh mì, microwave, nồi cơm điện, máy mở đồ hộp, máy pha cà phê... Dù các con đã ghi cách xử dụng các loại máy xuống giấy cho bà, nhưng bà vẫn thấy chúng xa lạ, nhất là cái máy pha cà phê. Ở bên nhà, sáng nào cũng pha cho ông, bà ghiền cái mùi cà phê thơm phức bốc lên trong lúc từng giọt đen sóng sánh nhỏ chầm chậm từ phin xuống ly. Cà phê Mỹ loại khuấy uống liền màu lợt lạt mà vị còn nhạt nhẽo, chua chua, còn loại pha bằng máy cũng chỉ khá hơn chút xíu. Cơm nấu bằng nồi điện thì trắng tinh, thơm dẻo nhưng ... hoàn chỉnh đến độ ... kém duyên, làm bà nhớ tới cơm nấu bằng nồi gang nóng đượm ở quê nhà, có một lớp cháy mỏng thơm thơm dưới đáy. Đó là chưa kể cơm nấu trong niêu đất, lớp cháy dòn tan ăn với nước cá kho thì bên này thật là không kiếm được. Con cá, lá rau ở bên Mỹ xanh tươi, sởn sơ nhưng có lẽ vì to quá nên hương vị loãng đi, nhất là trái chuối bên này lớn nhưng nhiều bột làm bà bâng khuâng nhớ trái chuối tiêu trứng quốc ngọt thơm duyên dáng ở quê nhà. Cũng may, con cái sợ ông bà buồn nên đã đem về nhiều sách chuyện, đĩa nhạc, chương trình ca nhạc tiếng Việt, và xin giống một cây ớt hiểm và mấy loại rau thơm để ông bà lúi húi trồng trong mảnh vườn nhỏ cho khoẻ tay khỏe chân.  Ông bà cũng đi dạo quanh xóm, rồi khám phá ra rằng gần đó cũng có mấy vị cao niên người Việt. Thế là mọi người có dịp chào hỏi, hàn huyên với nhau nên thấy vui và đỡ quạnh hiu.
    Khi đã quen, bà Lan nghiệm thấy rằng đời sống bên Mỹ cũng có nhiều điểm hay. Bà nói với ông:
- Ông à, hồi mới qua tôi thấy nhà bên Mỹ lúc nào cũng đóng cưả im lìm, lạnh lẽo quá. Nhưng giờ quen với mấy ông bà trong xóm, mỗi ngày hẹn nhau đi bộ, thỉnh thoảng có bát chè, cái bánh đem sang cho nhau, tôi thấy vưà vưà vậy mà vui. Ở bên Việt Nam, nhiều chỗ hàng xóm ở gần nhau quá, có khi chuyện "trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã hay". Bà con thân nhau quá rồi có khi tự cho mình quyền nhảy xổm vào phê phán, can thiệp đời tư cuả nhau, có khi sinh cãi nhau mất cả tình, ông nhỉ?
Có lần mấy ông bà trong xóm gặp nhau ở công viên cũng bàn tán về đề tài này. Ông Hai nhà ở đầu phố mở đầu:
- Hồi mới sang mình nhớ Việt Nam nên thấy cái gì khác bên đó mình cũng không ưa.
   Nhưng nghĩ lại, đời sống ở đây không đến nỗi nào... Chỉ một chuyện là người già như mình được medicare, bệnh gì cũng được chữa miễn phí là tôi thấy sướng quá rồi! Mấy ông bà thấy bà cụ Ba không? Bả bị yếu chân, nhà nước trả tiền cho người lại nuôi rồi mỗi tuần còn có người lại tập cho đi nữa. Bên Việtnam không có tiền là chịu chết! Tôi nghe nói so với châu Âu thì săn sóc y tế bên Mỹ không bằng nhưng mà "trông lên thì chẳng bằng ai, trông xuống thì chẳng thấy ai bằng mình", thật là đúng quá!
Bà Tư Cần Thơ gục gặc tán thành:
- Ưà, ở đâu tui hỏng dám nói chớ ở Cali này, đám già tụi mình hỏng biết tiếng Anh cũng hỏng sao. Dịch vụ gì cũng có nhân viên nói tiếng Việt,  sô sồ qước kơ  (social worker) cuả mình cũng người Việt. Nói thiệt nha, tui chỉ cần biết có một câu "Việt nam mi bờ li" (Vietnamese, please) hà. Kêu lên chỗ sở xã hội nói vậy là người ta kiếm người Việt nói chuyện với mình. Bà chị tui ở dưới Nam Cali nghen, bả hỏng biết chút tiếng Anh tiếng U nào hết, mà đi đâu cũng tới, bị ở đó nhiều người Việt mà! Rảnh bả còn trồng rau thơm rồi kêu con dâu đem ra chợ bán ...
Bà Hồng hứ nghe cái "cóc":
- Cũng tại bà chị bà có phước có  dâu ngọt , chớ nhiều người có  dâu chua lè  nghen bà. Bà Mai ở ngã tư nè, dâu bả đi làm suốt ngày mà hà tiện, trong nhà hỏng dám bật sưởi, muà đông lạnh thấy tiá luôn à bà...
Bà Thư nhẹ nhàng tiếp lời:
- Tui có nghe chị Mai than rứa đó, nhưng chuyện đó giải quyết xong rồi tề. Tui kêu con trai tui bày cho con chỉ làm đơn xin chính phủ cho tiền làm lớp  in xu lấy sần  (insulation) mới quanh nhà hết, rồi còn chỉ thêm mấy mẹo để nhà bớt lạnh. Con dâu chỉ thấy nhờ bà má mà nhà đỡ tốn tiền, giờ hết dám tắt máy sưởi rồi. Cũng may, chỉ có nói ra thì tui mới biết đuờng mà bày cho chỉ ...
Ông Thái trầm ngâm một chút rồi nói:
- Cha mẹ già gặp con cái lơ là, hắc ám thì ở đâu chẳng có. Ở Việt Nam mà gặp hoàn cảnh đó còn khổ hơn. Mình ở đây có  tiền già , lỡ gặp con bất hiếu nó còn ít dám nói mình ăn bám. Tại mình không quen xài chứ bên đây họ có nhiều dịch vụ giúp người già lắm đó, mà người ta coi vậy chứ không lạnh lùng đâu. Mình có chuyện lo lắng mình cứ nói ra, nói với bác sĩ của mình, với cha ở nhà thờ, kẹt quá thì đi bộ ra chợ, ra công viên ở gần nhà nói với người dưng, thế nào cũng có người sẵn lòng giúp mình. Tui cũng chỉ biết có mấy câu tiếng Anh dằn túi à, hai câu quan trọng nhất phải nhớ là "Ai nít heo pờ" (I need help) với "Ai em Việt nam mi" (I am Vietnamese). Còn cái số 911, khi có chuyện nguy hiểm kêu số đó là bảo đảm có cảnh sát lại cứu mình.
Bà Thanh vả lả:
- Ưà, đúng đó, người ta coi vậy mà sẵn lòng giúp mình lắm đó. Mình mà có sức đi học thì vui lắm, có khi thầy cô cũng là người Việt. Khu nào người Việt nhiều, vô trường kiếm người Việt có xe ở gần nhà mình, chia chút tiền xăng nhờ họ đón mình đi học. Hỏng có thì nguời Tàu, người Mễ cũng thiếu gì ngươì hiền. Tui cũng đi học cho vui, vô chữ nào thì vô, hỏng vô thì cũng gặp người ta, mỗi người chỉ cho một chuyện. Nói nào ngay, qua đây cũng có chuyện mình phải đổi lại chớ, tỉ dụ như bên Việt nam nhà cưả trống lổng, mình mặc sức chiên cá, kho mắm...Bên đây xứ lạnh, cưả đóng con muỗi chui hỏng lọt mà nấu kiểu đó chịu sao thấu. Mèn ơi, có lần tui đi bộ vià, mở cưả nhà nghe mùi cá tự ên tui kho mà tui còn chóng mặt! Ăn thua là con cái cha mẹ thông cảm với nhau, có chuyện biết lưạ lời, lựa lúc mà nói. Tui cũng có gặp mấy người bạn có con cái khó tánh, tui biểu họ ráng một thời gian cho quen cách sống, nếu mà hiểu nhau hỏng nổi thì nhờ người quen hay  quớc kờ  (worker) bên sở xã hôị giúp...Chớ ở đâu mà hỏng có người có phước, người vô phước... Hồi còn bên Việt nam, nghe nói Mỹ là điạ ngục của người già, tui cũng run chớ. Qua đây rồi, thấy nếu Mỹ có là điạ ngục thì cũng là từng thứ nhứt, chớ mấy nước nghèo như Việt nam, người già hỏng tiền rớt nước mắt kiếm hỏng ra hột cơm ăn mới là từng điạ ngục thứ chín à ...
Dứt lời, bà Thanh cười như đắc ý với lời so sánh có duyên của mình. Bà Tám Oanh nguýt bạn bằng đôi mắt vẫn còn sắc ngọt rồi mắng yêu:-  Mụ  Thanh này lanh quá xá lanh, hạp với bên đây nên tươi như hoa hà...  Nói qua nói lại chớ tui thấy dù có buồn chút xíu nhưng có nhà nuớc lo sức khoẻ với lại có giúp đuợc cho con cháu chút chút là tui khoái hà. Cha mẹ đi làm nguyên ngày, con cái vià tới nhà là ôm máy tính, hỏi sao tuị nó hỏng lầm lì? Có ông bà ở nhà đi ra đi vô, đưá nào ngoan thì nghe mình nhắc nó càng lo học, đưá nào cứng đầu hỏng nghe thì cũng hỏng dám làm quá... Mà con cháu mình nó cần mình dạy tiếng Việt nha. Mèn ơi, mấy ông bà thấy hoa hậu Việt nam bên đây càng ngày càng giỏi hôn? Lóng rày nhiều cô nói tiếng Việt rôm rốp, thấy thương hết sức. Mà mười cô thì hết chín cô biểu nhờ có ngoại, nội nên mới biết tiếng Việt à nhen...
Bà Lan kết thúc câu chuyện:
- Đúng đó, mình già thì già chớ không có vô dụng đâu. Ăn thua là mình phải giao thiệp, phải dám hỏi, đừng có giữ trong lòng. Hồi mới 75, ít người Việt, không có dịch vụ thì ngươì già hơi cực. Bây giờ sách vở tài liệu gì cũng có tiếng Việt, điện thoại cũng rẻ, ở tiểu bang xa cũng goị nguời quen hỏi thăm được. Hồi xưa tội lắm, bà bạn tui bị bỏ bê mà không dám nói với ai, tại nghe hăm là nói ra con bị mất việc làm, bị ở tù. Giờ biết chắc là trừ khi mình bị đánh đập, hành hạ thôi, chứ bình thường ai mà bỏ tù người ta vì chuyện xích mích nhỏ trong gia đình. Mỹ họ đâu bắt con cái nuôi cha mẹ, bởi vậy ai lớn tuổi mà cần xin trợ cấp là có hết.
    Sau một thời gian ở Mỹ, bà Lan nhận thấy rằng dù ở phương Đông hay trời Tây, con người ở đâu cũng có những căn bản giống nhau. Có lần thấy trên báo có một bức tranh hí hoạ ở dưới có câu "Between a rock and a hard place", bà đoán ý rồi hỏi lại con. Khi thấy mình đoán đúng, bà hể hả:
- Thì ra Mỹ cũng có câu giống như tục ngữ cuả mình, tiếng Việt mình bảo là "Trên đe dưới buá" đó con.
Rồi bà còn tìm ra nhiều câu khác làm bà thích thú lắm, chẳng hạn như "Like father, like son" thì là "Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh"; "What goes around comes around" thì cũng tương tự như tiếng Việt mình nói là "Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ"...
     Khi bé Hạnh ra đời, con bé đã may mắn được có ông bà ở bên từ lúc sơ sinh. Vốn là nhà giáo nên ông Vinh có thói quen chuyện gì cũng giảng giải tới nơi tới chốn. Ông Vinh thích bế con bé đi vòng vòng, kể chuyện về mọi thứ trong nhà. Bài giảng thích nhất của hai ông cháu là về bức tranh vẽ một bầy chim tung cánh bay. Bà Lan đã bật cười, khi bà nghe ông nói chuyện với con bé mới sáu tháng như nói với người lớn:
- Đây là bức tranh vẽ bầy chim đang bay. Con thấy con chim bay trước nhất này không? Người ta gọi nó là con chim đầu đàn. Con chim đầu đàn là con chim khôn nhất, nó biết bay đúng đường cho cả đàn bay theo.  Thường thường con chim đầu đàn cũng là con chim khoẻ nhất. Con thấy không, cánh nó giang rộng nhất, cổ nó vươn về phiá trước...
    Lúc đầu bà Lan nghĩ con bé không để ý và không hiểu gì những lời cuả ông Vinh, nhưng rồi bà cũng phải tin là con bé hiểu vì lần nào bà bế bé Hạnh đi ngang qua bức tranh, nó cũng chỉ tay, miệng bi bô cho tới khi bà phải đứng lại và lập lại những lời giống như ông thường nói.
   Rồi thằng bé Khoa ra đời. Hai đưá luôn quấn quýt bên ông bà và chúng lớn lên với những lời ru ca dao và thơ tiếng Việt. Hai chị em nó thích nhất bài Nhớ Làng cuả Yến Lan:
Mưa đưa thương nhớ về làng
Mưa làm xa những dặm đàng bến sông
Chiều nay mở cưả ra trông
Thấy làng đâu - chỉ thấy lòng mà thôi
Mưa đưa thương nhớ bời bời
Bời bời thương nhớ, mưa ơi khuất làng
Ở đây sông núi võ vàng
Dừa cao lểnh khểnh cành xoan ngoằn ngoèo
Con đường thì hút cheo leo
Mình đi chỉ bóng cùng theo với mình...
Làng tôi gió nhỏ thênh thênh
Mưa rơi nhè nhẹ, trăng lên dịu dàng
Làng tôi khôn nói hết làng
Có người cứ mỗi chiều vàng... nhớ tôi...
   Có lần đang ru hai đứa bà nghe thằng Khoa bập bẹ nói theo. Không tin là thằng bé nói chưa sõi mà nhớ được thơ, bà cố ý chờ ở chữ cuối của mỗi câu và thấy nó nói đúng. Thì ra con nít cũng biết lắng nghe và còn nhớ nữa!
   Con gái và rể cuả ông bà Vinh rất mừng khi thấy hai đưá bé ngoan ngoãn và càng lớn càng nói giỏi tiếng Việt. Vợ chồng nó cứ bảo là hai đứa bé lanh lẹ là nhờ công ông bà dạy dỗ từ thưở mới ra đời. Ông bà chỉ cười nói có hai đứa hủ hỉ làm tuổi già cuả ông bà hết quạnh hiu chứ ông bà đâu có cố sức dạy gì đâu. Ông bà chỉ sống theo nếp Việt Nam, ru cháu bằng những lời ông bà đã từng ru các con ngày xưa. Ông thích thơ thì đọc thơ, bà thuộc ca dao thì ru bằng ca dao, tự nhiên nó thấm vào đầu hai đứa. Khi rảnh rỗi bà Lan kể chuyện cổ tích hay nghe nhạc, xem video Việt Nam và hai đứa cháu cũng xem theo. Hôm sinh nhật thằng Khoa, hai chị em nó vưà dậm chân đi diễn hành vưà hát "Mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng..." (1) làm ông bà cũng không ngờ là hai đứa nhớ lời nguyên cả bài hát dài. Chưa hết, bé Hạnh còn hứng chí hát luôn bài Sầu Đông cuả Khánh Băng, lúc nó lên giọng "Em đã sang ngang rồi ... Đành thôi nhớ mong...", cả tiệc đã được một trận cười.
  Bây giờ ngoài tiếng Việt, bé Hạnh và bé Khoa cũng thích xem những chương trình thiếu nhi của Mỹ như Barney, Sesame Street... Nhờ thế, bà Lan cũng có dịp làm quen với những mục này. Âm thanh vui nhộn, màu sắc rực rỡ làm cho cả ba bà cháu đều thích thú. Hai đứa còn "dạy" bà hát bài của Barney:
I love you
You love me
We re a happy family
With a great big hug, and a kiss from me to you
Won t you say you love me too? (2)
Một tuần chúng còn đi học ở trường vài tiếng đồng hồ, tuy rất thương cô giáo và thích bạn bè, nhưng hai đứa vẫn quyến luyến ông bà lắm ... Chúng có vẻ "mê" các bài hát ru và những chuyện đời xưa bằng tiếng Việt cuả ông bà hơn. Lúc đầu bà Lan lo cho cháu bị rối trí vì phải học tiếng Anh, tiếng Việt nên bà tính để cho cháu ở lại thêm giờ ở trưòng nhưng con bà trấn an ngay "Mẹ đừng lo, bác sĩ bảo con nít học dễ lắm, không có vấn đề gì đâu. Con coi trên Internet có nhiều cuộc nghiên cứu chứng minh rõ ràng là con nít có thể học tới 3, 4 thứ tiếng cùng lúc mà! ". Ông Vinh mỉm cười đồng ý, gật đầu ngâm một câu thơ mà ông rất tâm đắc
" Chỉ sợ đàn con quên Việt Ngữ,
Đừng lo lũ trẻ kém Anh Văn..." (3)
 ... Dòng tư tuởng cuả bà Lan bị cắt đứt vì bé Hạnh nhõng nhẽo níu áo
- Bà ơi con muốn bà kể chuyện con thỏ con ruà.
Bà Lan mỉm cười:
-Con nghe chuyện này nhiều lần rồi, thôi bà kể chuyện khác nhé.
Con bé nũng nịu:
- Nhưng con thích con thỏ con ruà mà ...
Vưà nói nó vưà trèo lên lòng bà. Ông Vinh cười, mắng yêu:
- Con bé này nhõng nhẽo quá!
Bà Lan âu yếm bảo cháu:
- Con phải ngoan không thì người ta bảo "cháu hư tại bà" đấy!
Bé Hạnh tròn xoe đôi mắt nai, phản đối "Hông! Cháu ngoan tại bà!"
Rồi con bé tụt xuống, vưà chạy ra sân sau vưà reo vang "Cháu ngoan tại bà". Thằng bé Khoa cũng bắt chước chạy theo, vừa chạy vưà la "Chaú ngoan tại bà ... Cháu ngoan tại bà..."
Ông Vinh và bà Lan mỉm cười nhìn theo hai đưá bé. Năng đã lên chan hoà, trời thật đẹp...
***

Chú thích:
(1)Chiến Sĩ Vô Danh - Phạm Duy
(2)  Tạm dịch:
Con thương ông bà
Ông bà thương con
Gia đình ta thật là yên vui
Một vòng ôm thật chặt,
một nụ hôn đến với ông bà
Ông bà có nói thương con không nào?
(3) Thơ của cố nhà giáo lão thành/thi sĩ Bảo Vân
Các chữ và câu tiếng Anh trong bài:
Social worker: nhân viên sở Xã Hội.
Worker: gọi tắt của social worker.
Vietnamese, please: Làm ơn nói tiếng Việt.
I need help: Tôi cần giúp đỡ.
I am Vietnamese: Tôi là người Việt.

KHÔI AN

Em bé 5 tuổi chăm sóc người mẹ bị ung thư
17-09-2009

Đôi bàn tay bé xíu, vừa xúc cơm vừa đỡ đầu mẹ, bé Trường nhẹ nhàng đút từng thìa cho mẹ rất thuần thục. Một năm nay, mọi việc chăm sóc người mẹ bị bệnh nan y đang lay lắt những ngày cuối đời đều do cậu bé chưa tròn 5 tuổi này lo hết.
Chối bỏ con thơ vì vợ mang căn bệnh tử thần
Dưới cái nắng chói chang của miền đất Tây Ninh, chúng tôi tìm đến nơi ở của mẹ con cô giáo Võ Thị Mến ở ấp Ninh Lộc, xã Ninh Sơn, Thị xã Tây Ninh. Trong nhà căn nhà mục nát và chắp vá, đập vào mắt chúng tôi một hình ảnh nát lòng - một đứa trẻ chưa tròn 5 tuổi đang đút từng thìa cơm cho người mẹ nằm thoi thóp trên chiếc võng cũ. Thấy khách đến, đứa bé mặc bộ đồ lấm lem vội khoanh tay lễ phép cúi chào rồi quay lại tiếp tục đút cơm cho mẹ.

 
Bé Trường đút cơm cho mẹ một cách thuần thục khi em chỉ mới gần 5 tuổi.
Không khí tĩnh lặng buổi trưa bị phá tan bởi tiếng khóc nghẹn ngào của cô Mến khi vô tình chúng tôi hỏi đến cha bé Trường.
Do hoàn cảnh nghèo khó nên mãi đến năm 40 tuổi cô giáo Mến mới tìm cho mình được hạnh phúc với một người đàn ông góa vợ. Một năm sau (năm 2004), bé Mai Xuân Trường chào đời. Thằng bé kháu khỉnh và giống cha như đúc. Lúc ấy cô cứ tưởng số phận đã mỉm cười với mình.
Nhưng thật éo le, niềm hạnh phúc đó không kéo dài được lâu. Khi bé Trường được hơn 2 tuổi cũng là lúc cô Mến phát hiện mình mang căn bệnh hiểm nghèo.
Năm 2006, cô Mến thấy ngực mình đau buốt, chạy chữa khắp nơi nhưng cũng không tìm ra bệnh. Đến khi xuống bệnh viện ở TPHCM mới rụng rời, cô bị ung thư ngực đã di căn. Cũng lúc ấy, cô chịu thêm một niềm đau còn lớn hơn, người chồng lẳng lặng bỏ đi không một lời từ biệt.
Khi chăm mẹ xong, chú bé háo hức moi trong tủ ra khoe với chúng tôi những tấm hình được chụp hồi đầu năm.
Mân mê những tấm hình, bé Trường chỉ vào bộ quần áo mới nguyên trong tủ, khoe: "Mẹ nhờ dì mua mất tận 30.000 đồng đấy. Nhưng cũng từ đó đến nay con chưa mặc, còn để dành".
Mẹ ốm. Cha bỏ đi. Bé Trường thua thiệt đủ đường. Một năm nay, khi căn bệnh của mẹ trở nên trầm trọng, không thể đi lại, thì tất cả công việc trong nhà đều đến tay bé. Ngày qua ngày, Trường dần quen với công việc nhà và trở thành trụ cột của gia đình khi chưa tròn 5 tuổi.
Chúng tôi hỏi Trường thường làm gì giúp mẹ, bé nhanh nhảu trả lời: “Con biết vo gạo, nấu cơm, nhiều thứ lắm”. Người nhỏ xíu, mỗi lần bắc cơm chú bé phải trèo lên chiếc ghế rồi mới với tay tới chỗ cắm điện. “Thấy con nhỏ tiếp xúc với điện nguy hiểm nhưng cũng đành nhìn con làm vì người không thể ngồi dậy được”, cô Mến thở dài.
Cậu bé 5 tuổi này mấy năm nay đều tự chăm lo cho bản thân mình: tự tắm rửa, tự ăn, tự chơi, tự học. Nhìn chúng bạn được ba mẹ đón đưa, được chơi đủ trò trong trưa nắng, thèm lắm nhưng cu cậu không dám đi chơi xa, chỉ quẩn quanh bên mẹ, “ở nhà còn xoa dầu, bóp tay cho mẹ đỡ đau”.

 
Vừa cho mẹ ăn, bé Trường vừa bóp tay cho mẹ
Cô Võ Thị Mến, năm nay 45 tuổi, nguyên là giáo viên dạy địa trường THCS Nguyễn Tri Phương (TX Tây Ninh). Đầu năm 2007, cô Mến bị đau ở vùng ngực và tay trái, khám mới phát hiện mình bị ung thư đang di căn không thể phẫu thuật được. Các bác sĩ điều trị cũng chỉ cho thuốc uống để ngăn chặn sự phát triển của khối u, nhưng vẫn không giảm.
Hiện cô và con trai, bé Mai Xuân Trường, 5 tuổi đang tá túc tại nhà người chị thứ hai ở 271/3 ấp Ninh Lộc, Ninh Sơn, TX Tây Ninh (Điện thoại: 01264902397).
“Thầy thuốc nhỏ” này còn thuộc nằm lòng những bài thuốc dân gian sắc cho mẹ. Chưa ý thức được mức độ hiểm nghèo của căn bệnh mà mẹ đang mang, Trường chỉ nghĩ “có thuốc cho mẹ uống là khỏi bệnh” nên hằng ngày, khi dì rảnh, Trường lại nhờ dì dắt đi tìm lá thuốc.
“Tội cháu nhất là những khi Tết hoặc Trung thu, nhìn những đứa trẻ khác được bố mẹ chở đi chơi, mua quà. Con mình chỉ biết nhìn theo các bạn...”, cô Mến nghẹn lời. Những lúc như vậy, Trường chỉ ôm mẹ mà nói: “Con không cần quà đâu. Mẹ dành tiền trị hết bệnh, mẹ đừng chết nghe mẹ!”.
Dấu chấm hết cho một cô giáo có tâm với nghề
Mười tám năm đứng trên bục giảng, biết bao thế hệ học trò qua lớp của cô.
Suốt 18 năm đi dạy, cô Mến luôn được xếp loại lao động giỏi. Nếu cô dạy thêm 2 năm nữa thì có lẽ nay đã nhận được giấy chứng nhận Nhà giáo ưu tú với 20 năm cống hiến rồi. Ấy vậy mà từ khi nghỉ dạy đến nay đã một năm, cô Mến vẫn chưa nhận được giải quyết chế độ nghỉ hưu sớm.
Khẽ nén tiếng rên trong những cơn đau giằng xé trong xương trong thịt, cô Mến nghẹn ngào kể lại: Bệnh phát càng nặng, cơn đau dồn dập, chi phí thuốc men tốn kém vô cùng. Cả tháng lương giáo viên không đủ chi cho một lần xuống thành phố trị bệnh. Khối u di căn gây lở loét nên cô đành phải nghỉ dạy.

 

Cô Mến với những tấm bằng chứng nhận lao động giỏi những năm còn đi dạy.
Cắn răng chịu đựng khi cơn đau hành hạ, không kiếm đâu ra tiền chữa trị, cô bấm bụng bán nền nhà nhỏ là chỗ trú mưa nắng của hai mẹ con, được tổng cộng 32 triệu. Nhưng số tiền này cũng nhanh chóng đội nón ra đi theo những đơn thuốc.
Tiền không, nhà cửa không, hai mẹ con dắt díu nhau về tá túc tại nhà người chị thứ hai vốn cũng không gì khá giả hơn.
Trong căn nhà chắp vá, chỗ lành ít hơn chỗ thủng, cô Mến khóc suốt trong buổi trò chuyện cùng chúng tôi. “Nỗi khổ cực, đau đớn của tôi chỉ biết kêu trời cho thấu, nhưng tôi “đi” không đặng, vì bé Trường còn bé quá”…


 
Bữa cơm của mẹ con bé Trường chỉ có canh và nước tương.
Chúng tôi ra về trong nỗi day dứt “chết không đặng” của cô giáo Mến và bước chân lon ton gọi với theo của cu Trường “Lần sau xuống, cô chú… cho con… một hình siêu nhân nghen!”.
Chút vòi vĩnh rụt rè của “người đàn ông trụ cột” 5 tuổi như lưỡi dao cứa vào lòng chúng tôi. Đằng sau sự can đảm của “người đàn ông trụ cột” kia, vẫn là tâm hồn của một đứa trẻ…


Tin 24h

Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Samedi 5 septembre 2009 6 05 /09 /Sep /2009 12:24

Hoa Biển ANH THY

Vũ Thất 


    
  Sau tháng 4/75, để trả đũa miền Bắc thống nhất miền Nam bằng vũ lực, miền Nam bắt đầu tấn công miền Bắc bằng… âm nhạc. Nhạc miền Nam nhanh chóng vượt Bến Hải, chiếm Hà Nội, Hải Phòng, lan tận ải Nam Quan. Thậm chí nhạc lính của miền Bắc cũng dần dần mất định hướng xã hội chủ nghĩa, đành chịu để nhạc lính miền Nam giành dân lấn đất. Đến nay, ba mươi hai năm trôi qua, rõ ràng là Đêm nguyện cầu đã phủ mờ Trường sơn đông Trường sơn tây. Và Tiếng chày trên sóc bam bo đã chìm dần trong Tiếng hát hậu phương âm vang Trên bốn vùng chiến thuật. Riêng nhạc lính của nhạc sĩ miền Nam Trần Thiện Thanh có cái lạ là sau cuộc đổi đời, không chỉ lấn lướt nhạc lính của các nhạc sĩ miền Bắc mà còn làm thay đổi cả cảm nhận của chính người miền Nam. Trước kia, rất nhiều người coi lời ca Trần Thiện Thanh là cường điệu, là hào nhoáng nhưng khi quê hương sỏi đá biết buồn, những lời đó lại gây nhức nhối tận tâm can. Tôi cũng không thoát khỏi sự chuyển hướng này mà không chừng còn …sâu đậm hơn. Trước đây, tôi không chỉ cho lời ca Trần Thiện Thanh là đầu môi chót lưỡi mà còn thích nghêu ngao những câu sửa đổi cợt đùa, như “trên ngôi cao chín tầng hoàng hậu đẹp … không giống ai”! Vậy mà khi từng trải những đêm dài trong ngục tù cải tạo, dù chỉ với một giọng ca làng nhàng, chỉ với từng tiếng đàn lập dập mà lạ lùng sao chính những lời chót lưỡi đầu môi đó lại thắm thía gợi về những buồn vui đời lính, về những vùng biển mặn xa khơi. Tôi bắt đầu yêu nhạc Trần Thiện Thanh từ đó. Cho nên khi an cư lạc nghiệp xứ người, tôi đã tìm mua bất cứ băng nhạc, CD và DVD nào có giọng ca hoặc nhạc của Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Một là để thưởng thức trọn vẹn hàng trăm tác phẩm đa dạng của anh, hai là như một lời xin lỗi…. Khi được tin anh đã qua Mỹ 1993, tôi rất vui mừng. Tôi muốn nhìn lại hình ảnh Nhật Trường trên Tiếng Hát Đôi Mươi mà hai mươi năm trước tôi không mấy quan tâm. Quả nhiên, qua cuốn video Holywood Night, tôi đã vô cùng thích thú gặp lại Nhật Trường trong phong thái diễn tả rất đặc thù. Hình ảnh của anh trong bộ quân phục trắng hải quân gợi nhớ hình ảnh của chính tôi ngày nào. Thêm vào đó là bài Hoa Biển mang tôi trở về những kỷ niệm với nhạc sĩ Anh Thy … Cuối năm 1967, đang chỉ huy toán giang đỉnh hoạt động vùng sông Măng Thít, tôi bất ngờ được lệnh thuyên chuyển về Phòng Tâm lý chiến Bộ tư lệnh Hải quân. Tôi chắc là nhờ “uy tín” mấy bài thơ, mấy truyện ngắn đăng trên tờ nguyệt san Lướt Sóng mà được ban biên tập “triệu hồi” tăng cường. Vào trình diện vị trưởng phòng, tôi không dấu vẻ thất vọng khi ông lại giao cho cái chức hoàn toàn ngoài năng khiếu: Trưởng ban văn nghệ Hải quân. Tôi viện lý do không rành đờn ca xướng hát để từ chối. Ông cười, bảo tôi có máu văn nghệ mà được giao cho nguyên ban văn nghệ thì còn đòi hỏi gì! Ban văn nghệ Hải quân lúc đó có khoảng 20 người, gồm ban tân nhạc và ban kích động nhạc , ban kịch, hai nhân viên chuyên trị cổ nhạc và một ảo thuật gia. Đó cũng là lần đầu tôi thấy “dung nhan” hai nhạc sĩ thành danh là Nguyễn Vũ, Mặc Thế Nhân. Còn nhạc sĩ Anh Thy thì đó là lần thứ hai. Nguyễn Vũ vóc dáng nhỏ con, chững chạc, ít cười. Mặc Thế Nhân ngang tầm Nguyễn Vũ, nếu không tía lia thì luôn chúm chím. Còn Anh Thy, người cân đối, cao ráo, khuôn mặt điểm vài anh hoa phát tiết, miệng rộng môi dầy, cười hở hai hàm răng đều đặn. Đó đúng là hình ảnh Anh Thy tôi gặp hai năm trước. Thời gian đó tàu tôi về Mỹ Tho phối hợp hành quân với các giang đoàn. Một bữa nghỉ bến, tôi đang ngồi viết một truyện ngắn thì Anh Thy bước đến trước bàn, chân chập lại, tay đưa lên chào. Anh xưng tên. Chúng tôi thăm hỏi thân mật. Được một lúc, Anh Thy tươi cười mở quyển Lướt Sóng, chỉ bài thơ: – Thật là may được ông thầy đúng lúc! Em viết bản nhạc khá lâu mà không đặt ra lời. Nay gặp cái tựa bài thơ của ông thầy em chịu quá. Xin phép cho em “chôm” cái tựa Hoa Biển để làm tựa cho bản nhạc. Tôi vồn vã: – Khỏi cần chôm cái tựa, hân hạnh tặng Anh Thy nguyên bài thơ để phổ nhạc. Anh Thy đọc một đoạn trong tám đoạn: – “Áo trắng em may hoa bọt biển. Còn đêm nay nữa, sáng xong rồi. Áo trắng anh mang cho trọn kiếp. Còn em một buổi để rồi thôi”! Rất tiếc ông thầy, nghe …thảm quá! Em chỉ thích những gì vui vui… Ba nhạc sĩ thành danh nhưng chỉ mình Nguyễn Vũ ôm đàn trên sân khấu, còn Mặc Thế Nhân thì giữ vai kịch sĩ, Anh Thy thì làm hoạt náo viên. Đó cũng là lần đầu tôi biết mặt ca sĩ kích động Elvis Phương, lúc đó anh biết chỉ mỗi bản tân nhạc Mộng Dưới Hoa mà dân làng xã đều ….ngáp khi anh trình diễn. Còn đỡ hơn là khi anh hát kích động Anh Mỹ họ bỏ ra về. Có lẽ vì vậy mà năm sau anh xin qua Biệt đoàn văn nghệ trung ương. Ban văn nghệ thường tháp tùng trên một trong hai chiếc y tế hạm, phối hợp thực hiện công tác có tên gọi chung là dân sự vụ. Công tác gồm trình diễn văn nghệ, khám bệnh phát thuốc, phát quà và truyền đơn. Đối tượng là các đơn vị Hải quân, gia đình binh sĩ và dân chúng ở các làng xã vùng xôi đậu, các hải đảo xa khơi… Mỗi chuyến kéo dài từ một đến hai tháng. Sau chuyến công tác đầu tiên vùng Rạch Giá – Phú Quốc, tôi biết được tính tình và biệt danh của từng người. Như tay trống kích động tên Minh rất vui nhộn, có bộ mặt dài như mặt ngựa nên bạn bè gọi Minh ngựa. Hai tay đờn hiền hậu có cùng tên Đức nên được phân biệt Đức Cống, Đức Cạp. Riêng Anh Thy tuy dáng vẻ hào hoa, lịch lãm nhưng do mang tên thật là Phạm Văn Khổn nên bị anh em âu yếm tặng cho cái biệt danh khó nghe: Khổn Lò! Dù vậy nhạc sĩ nhà ta lại tỏ ra thích thú. Ngay tối mồng một, Việt Cộng đột nhập tấn công Bộ tư lệnh Hải quân. Tuy cả toán đặc công bị tiêu diệt nhưng đủ để biến ban văn nghệ thành trung đội tác chiến. Chừng tháng sau, khi được chỉ định làm trưởng trại tiếp cư Phạm Thế Hiển, tôi kéo trọn trung đội này qua bên kia cầu chữ Y để giữ an ninh trật tự….Nhiều tháng sau đó, toàn ban lại khăn gói xuống chiếc y tế hạm, trực chỉ miền Trung, ngược dòng Hương giang đến ủi bãi bên cầu Tràng Tiền và bắt đầu công cuộc cứu trợ đồng bào nạn nhân cộng sản. Ở Huế trở về, tôi được thăng cấp, thăng chức phó phòng, bàn giao ban văn nghệ cho một sĩ quan tân đáo. Bẵng một thời gian, một buổi sáng, Anh Thy vào văn phòng tặng tôi bản nhạc mới ra lò Lính Mà Em. Anh cho biết đã sáng tác trong những ngày ở Huế. Tôi có dịp hỏi anh học nhạc với ai. Anh Thy tươi cười, nghe cái “air” thì biết là ai rồi. Tôi thú nhận không rành nhạc. Anh lại cười, là Nhật Trường sư phụ! Ngoài Anh Thy , Mặc Thế Nhân, Nguyễn Vũ cũng thỉnh thoảng tặng tôi các bản nhạc và các dĩa hát mang giọng ca Lệ Thu, Hoàng Oanh, Thanh Tuyền… Tôi cứ áy náy nghĩ đến chuyện phải tặng lại cái gì. Thời may bỗng tới. Buổi chiều đang đọc văn thư, tôi bất ngờ nhận điện thoại từ nhà văn Huỳnh Văn Phú. Chúng tôi mất liên lạc nhau từ sau trung học. Anh đang làm trưởng phòng Tâm lý chiến Bộ Tư Lệnh Sư đoàn TQLC đồn trú cách chỗ tôi làm vài khu phố. Anh rủ đi nhậu ở một quán bên lề đường Phạm Ngũ Lão, tình cờ tôi ngồi cạnh nhà xuất bản Thiên Tứ. Ông Thiên Tứ thấy tôi mang hia đội mão hải quân nên trêu chọc: “ Binh chủng nào cũng có truyện viết về binh chủng của họ như Đời Phi Công, Đời Pháo Thủ…, chắc Hải quân có người nhái nên lặn kỹ quá”! Tôi khích lại: “Nếu ông in thì tôi viết.” Ông Thiên Tứ tỉnh queo: “Nếu anh dám viết thì tôi dám in”. “Thật không”? “ Sao không thật? Chỉ với một điều kiện: cái tựa phải là Đời Thủy Thủ”. Tôi thấy cũng dễ… ăn tiền. Cứ dựa vào bốn năm đi tàu từ ngày ra trường, rồi thêm mắm thêm muối là thành truyện dài thỏa mãn điều kiện. Hăng hái, tôi miệt mài viết ba tháng liền nhưng vì ướt át quá nên trở ngại…. phối hợp nghệ thuật. Mãi đến giữa năm 1969 tôi mới có sách để “đáp lễ” các nhạc sĩ của tôi. Khi đọc dòng đề tặng Mến tặng nhạc sĩ Anh Thi, anh gãi đầu xin sửa thành Thy. Vài hôm sau, Anh Thy chê: “ Truyện viết về sĩ quan mà lại lấy cái tựa “Đời Thủy Thủ”. Tôi bào chữa: “Thì quan đi tàu cũng là…thủy thủ”! Chưa kịp hưởng cái thú chiều chiều dạo qua các nhà sách, sạp sách xem vị thế trình làng của Đời Thủy Thủ, tôi được lệnh tham dự hành quân tái lập quận Năm Căn. Toàn ban văn nghệ với sự tăng cường các chuyên viên tâm lý chiến gồm các nhà văn nhà thơ Võ Hà Anh, Phan Minh Hồng, Tống Minh Phụng, Tô Giang…, chúng tôi đảm trách phần nhiệm chiêu dụ dân chúng trở về quận cũ đang bỏ hoang. Ngày nào như ngày nào, cứ vừa ra khỏi căn nhà nổi trên sông Bồ Đề chừng vài trăm thước là bị tấn công. Tuần nào cũng có tử thương, bị thương nặng nhẹ. Việt cộng cũng không chừa cả chiếc y tế hạm có mang biểu tượng hồng thập tự to lớn hai bên hông. Sau một tháng căng thẳng thần kinh, tôi may mắn trở về không bị sứt mẻ, lại đi nhậu với Huỳnh Văn Phú, lại bị nhà xuất bản khích tướng, rằng nếu tôi dám viết nữa thì ông sẽ dám in nữa. Tôi lại phải bỏ ăn, bỏ chơi, bỏ ngủ nhiều tháng. Nạp xong bản thảo cho Sở phối hợp nghệ thuật thì cũng vừa lúc tôi chia tay ban nhạc để về đơn vị mới vùng biên giới Việt- Miên. Ai cũng bùi ngùi. Riêng Anh Thy cười cười, mong sớm gặp lại ông thầy. Gần Tết năm 71, lên Sài Gòn nhận quyển Trong Cơn Bão Biển từ nhà in, bản đặc biệt dành để biếu. Tôi ghé Phòng tâm lý chiến ưu tiên tặng họa sĩ Vũ Thái Hòa, người phụ trách trình bày tờ Lướt Sóng và vẽ bìa cho các quyển truyện dài của tôi. Sau đó tôi đến phòng dợt nhạc. Nhìn tựa truyện Trong Cơn Bão Biển, Anh Thy đùa: “ À, truyện về bão, không phải về quan… thủy thủ!” Tôi cười gượng: “Vẫn là truyện quan thủy thủ!”. Về lại vùng hoạt động, lòng nhủ lòng nhất định phải viết một truyện về lính. Cuối tuần, tôi theo các giang đỉnh đi hành quân tuần tiểu. Một giang đỉnh thường được trang bị bốn nhân viên. Thuyền trưởng thâm niên nhất mang cấp hạ sĩ quan. Đây là một tập hợp các nhân vật lý tưởng cho quyển truyện tương lai. Tôi quan sát nghi nhận sinh hoạt. Tôi nghiền ngẫm nội dung, sắp xếp bố cục. Đầu năm 75, quyển Một Dòng Sông Cho Chiến Đỉnh ra đời. Tôi ghé phòng Tâm lý chiến, hy vọng ban văn nghệ chưa đi trình diễn xa để có dịp khoe “thành tích” với Anh Thy. Nhưng Vũ Thái Hòa lại báo tin Anh Thy đã tử nạn trong một chuyến công tác vài năm trước đó… Anh Thy để lại mươi bài hát mang niềm vui và hãnh diện cho Hải quân. Riêng nhạc phẩm Hoa Biển được in như một sử liệu trong Tuyển Tập Hải Sử, trang 205, do Tổng Hội Hải Quân & Hàng Hải ấn hành năm 2004 tại Hoa Kỳ. … Ngoài những lần gặp lại Nhật Trường Trần Thiện Thanh trên cuốn video Holywood Night, tôi còn có dịp gặp tận mặt trao đổi vài câu khi anh và ca sĩ Mỹ Lan phụ trách phần văn nghệ cho buổi ra mắt sách của nhà văn Phan Nhật Nam tháng 11/1997 tại thủ đô Hoa Kỳ.

 
Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã ký tặng tôi CD mới nhất Gọi Tên Anh Là…Lính, và thật tình cờ trong đó lại có bài Hoa Biển tôi ưa thích. Sau đó, khi về lại California, anh còn gửi tặng tôi CD “Hát Cho Lính & Những Người Yêu Lính”. Một hôm nghe tin Nhật Trường tuyên bố giải nghệ, tôi gửi mua ngay cái DVD cuối cùng của anh: Nhật Trường Giả Từ Sân Khấu. Ngày 13 tháng 5 năm 2005, các báo đồng loạt đưa tin Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã vĩnh viễn ra đi…. Gần một năm sau, gần thủ đô của người Viêt tỵ nạn, Trung tâm Asia tổ chức một đại nhạc hội quy mô trên một sân khấu tráng lệ để vinh danh chàng ca sĩ kiêm nhạc sĩ tài hoa. Tôi muốn về tham dự nhưng ở quá xa. Đành phải chờ DVD 50 Anh Không Chết Đâu Anh phát hành tháng 4/2006. Từ nhạc bản đầu tiên của DVD 1, tôi đã bắt đầu rơi nước mắt. Tôi say mê thưởng thức từng bài hát qua những giọng ca hàng đầu, qua nghệ thuật hòa âm hiện đại, trong một khung cảnh huy hoàng và trong nỗi xúc động sâu xa. Tới DVD thứ nhì, sau liên khúc Không Bao Giờ Ngăn Cách và Mùa Đông Của Anh, người điều hợp chương trình giới thiệu mục kế tiếp: “Ca khúc Hoa Biển được viết chung với nhạc sĩ Anh Thy, cũng là một Trung uý Hải quân”. Đang tràn ngập xúc động, lời giới thiệu làm tôi tỉnh người. Tôi chưa từng nghe hoặc đọc thấy tác giả Hoa Biển là Trần Thiện Thanh dù là soạn chung với Anh Thy. Trên các ấn phẩm bài Hoa Biển tôi được tặng từ xưa tới nay đều ghi một tác giả duy nhất là Anh Thy. Tác phẩm này nổi tiếng đến độ nói đến Hoa Biển là người yêu nhạc nghĩ đến Anh Thy hoặc nói đến Anh Thy là thấy Hoa Biển. Thêm một ngạc nhiên nữa, nhạc sĩ Anh Thy không thể là Trung úy Hải quân. Cho đến ngày tôi rời ban văn nghệ năm 1970, Anh Thy còn mang cấp hạ sĩ. Vào năm anh tử nạn 1973, có thể anh được vinh thăng Thượng sĩ . Khi Anh Thy còn sống, tôi chưa từng nghe anh nói Hoa Biển được hợp soạn cùng sư phụ. Khi Trần Thiện Thanh còn sống, tôi cũng chưa chưa từng nghe anh lên tiếng tương tự… Vậy thì vì lý do gì sau khi cả hai nhạc sĩ đã ra người thiên cổ, tên của Trần Thiện Thanh được gắn vào Hoa Biển … Không chỉ thế, trên một vài diễn đàn liên mạng về âm nhạc, một số người cho rằng Anh Thy là bút danh khác của Trần Thiện Thanh. Lại có người nói rằng có một người lính hải quân thuộc phòng Tâm Lý Chiến không biết đờn tên Phạm Văn Khổn đã tiếm danh Anh Thy của Trần Thiện Thanh. Trước những tin tức này, tôi xin đưa ra đây thủ bút của Nhật Trường xác nhận có quen biết một người mà anh gọi rành rọt là nhạc sĩ Anh Thy. “ K/g Anh Vũ Thất, Xin cảm ơn thịnh tình của anh, xin gửi anh “Rừng Lá Thấp”.
 


Anh Thy chết trước 75 tại VN trên đường công tác ở Qui Nhơn. Quán Anh Thy ở Cali không liên quan gì đến nhạc sĩ Anh Thy. Cảm ơn anh lần nữa. Kính, 18/7/2000 ký tên Nhật Trường” Còn việc Trần Thiện Thanh hợp soạn Hoa Biển với Anh Thy, ước mong rằng được nhìn thấy một chứng cứ cụ thể.

VŨ THẤT
Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Créer un blog gratuit sur over-blog.com - Contact - C.G.U. - Rémunération en droits d'auteur - Signaler un abus