Dimanche 13 mars 2011 7 13 /03 /Mars /2011 05:45

 

Nguyễn Thị Thảo-An

 

 
MP3...        PPS... 
 
 
  
Không biết bắt đầu từ thưở nào có một quy-luật hình thành là ở một thể-chế chính-trị, đều thành lập một lực-lượng để bảo-vệ mình, lực-lượng đó được gọi là quân-đội.

 

Quân-đội sinh ra từ chế-độ và nó cũng vẽ nên những chân-dung của chế-độ. Chế-độ tốt sẽ xây-dựng nên một quân-đội tốt. Quân-đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt-Nam với chiếc áo trấn-thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vụ giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ-nghiệp của tiền-nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời-thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.

 

Người thanh niên tuổi trẻ Việt-Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên-thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương.. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.

 

Bắt đầu từ thập niên 60, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ-thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô-lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê-hương. Thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam. Đất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ. Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Đã đem hy-vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy. Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa-danh xa lạ: Ashau, Ia-Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay, hay anh truy địch ở bờ sông Thạch-Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam-Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Đước, đến Đồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo-ve như sáo thổi. Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Đông xác thân thối rửa.

 

Từ Ấp Bắc, Đồng Xoài, Bình-Giã...cho tới Tống Lê Chân, An-Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền-nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Để cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.

 

Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng-Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu-phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.

 

Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón tay. Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.

 

 
 
   Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. Và người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là Anh trai tiền tuyến, Em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
 
    Đó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Đó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung-Tâm Huấn-Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Đó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương. Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước. Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Đó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô. Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Để anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.
Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân. Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh. Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. Tất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.
Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp-định Paris được ký kết. Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt-Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.
Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính? Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da. Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An-Lộc, Bình Long. Và thủ-đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.
  
Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban-Mê-Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.
Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ? Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.
Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô. Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm qua? Có thật không? Ngày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?
Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính? Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.
Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt-Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt-Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt-Nam.
Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.
Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam. Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới, hay ta chìm dưới đáy biển Đông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.
Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Để cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình. Để cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thuỷ lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Để cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.
Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt-Nam.
Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh. Bởi Cộng Sản Việt-Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm. Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. Đày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Đặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian. Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Đôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng. Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Để anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:

 

Ta về cúi mái đầu sương điểm,
Nghe nặng từ tâm lượng Đất Trời.
Cám ơn hoa đã vì ta nở,
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.
(Tô thuỳ Yên)

 
Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến? Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?
Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa. Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven-Eleven trên đường phố Mỹ. Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.
Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh. Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia? Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt-Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt-Nam. Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.
Ngày nay, Người Cộng-Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào. Để một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Để anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.
Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "Xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.
  



Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà. Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.
Kennesaw, 10/1996
 
Nguyễn thị Thảo-An
 
Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Dimanche 20 février 2011 7 20 /02 /Fév /2011 12:24

THƯ KHÔNG NIÊM

KÍNH GỬI:

ÔNG NGUYỄN VĂN AN,

CỰU CHỦ TỊCH QUỐC HỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM,

NGUYÊN ỦY VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ,

NGUYÊN TRƯỞNG BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG

 

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, Ngày 20 tháng 2 năm 2011

Thưa Ông Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An,

Nhân được người bạn ở trong nước cho địa chỉ email của ông, tôi mạo muội viết đôi điều góp ý để gửi trực tiếp đến ông. Dù ông đã nghỉ hưu, tuy nhiên ông đã là người lãnh đạo Đất Nước, là người của công chúng (public figure), nên tôi viết thư này dưới hình thức thư không niêm để độc giả nào còn quan tâm đến vận mệnh Đất Nước có thể bổ túc những gì mà tôi còn thiếu sót. Bởi vì tôi nghĩ rằng lịch sử đã để lại quá nhiều cảnh ngộ éo le mà chúng ta (kẻ thắng trận cũng như kẻ thua trận) không cùng nhau giải bài toán Đất Nước thông qua con đường đối thoại nghiêm chỉnh, bình đẳng, có trách nhiệm và tương kính thì nhất định sự khó khăn càng ngày sẽ càng trầm trọng hơn. Là đứa con được Bà Mẹ Việt Nam sinh ra, được nuôi dưỡng bởi dòng sữa Mẹ, được thừa hưởng một non sông gấm vóc và nền đạo lý do tổ tiên để lại, tôi có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự hưng vong của xứ sở. 

Để ông biết người đang thưa chuyện với ông là ai, tôi xin nói rõ nhân thân: Tôi là một cựu quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa, từng có thời kỳ cầm súng chiến đấu bảo vệ nền tự do của Miền Nam. Vào ngày 29 Tháng Tư năm 1975, vì từng có kinh nghiệm với cộng sản, hiểu rất rõ bốn chữ “giải phóng dân tộc” chỉ là chiêu bài bịp bợm đánh lừa đồng bào và thế giới, nên tôi không ở lại quê nhà để bị cộng sản cầm tù, đầy ải. Do đó, tôi đã đi tìm tự do, dù phải chịu số phận của người mất Tổ Quốc.

Khi cuộc Cách Mạng Mùa Thu xảy ra vào Tháng 8 năm 1945, nếu tuổi đủ lớn, chắc chắn tôi đã tham gia vào cuộc đấu tranh chống Pháp giành độc lập như bao thanh niên yêu nước và có thể tôi trở thành một đảng viên cộng sản. May mắn thay! Lúc bấy giờ tôi chỉ là một cậu bé mới lên năm tuổi và theo thời gian khi đủ trí khôn, tôi đã nhìn thấy sự dã man, tráo trở, đểu cáng của cộng sản. Và thêm một may mắn khác: Hiệp định Genève cắt đôi Việt Nam tại vỹ tuyến 17, chứ không phải tại vỹ tuyến 13 như yêu sách của cộng sản, nên tôi không bị sống dưới chế độ cộng sản. Nếu không có may mắn đó, rất có thể tôi đã là một tên lính tiền phong trong “Bộ Đội Cụ Hồ” vác súng đi xâm lược Miền Nam!

Thưa ông Cựu Chủ tịch Quốc hội,

Tôi phải giải thích dài dòng về nhân thân của mình như vậy để ông hiểu rằng hoàn cảnh lịch sử đã đẩy anh em dòng họ Việt Nam ở hai bên chiến tuyến vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn là do Miền Bắc tôn thờ một “ý thức hệ” phản khoa học và phi nhân. Một ý thức hệ mà những người đi làm cách mạng như các ông Hồ Chí Minh, Phạm văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hà Huy Tập, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Đỗ Mười … không đủ kiến thức để thấy nó phản khoa học và không đủ lương tri để thấy nó vô nhân đạo, nhưng các ông ấy lại thiết đặt một chế độ độc tài toàn trị cưỡng bách toàn nhân dân cả nước vào hỏa ngục Đỏ.

Trước ngày diễn ra Đại Hội XI, trả lời cuộc phỏng vấn của ký giả Thu Hà, ông nhìn nhận rằng “Nhận thức là một quá trình. Nhận thức của ông cũng thay đổi theo đường lối đổi mới của Đảng và sự phát triển của thế giới. Ông cũng luôn khẳng định phần trách nhiệm của mình về những nhận thức và việc làm còn nhiều hạn chế và yếu kém của ông khi còn đương nhiệm”. Đồng thời ông cho độc giả biết hiện trong đảng có hai khuynh hướng chủ yếu:

 Về cơ bản vẫn giữ cái khung các dự thảo văn kiện như hiện nay. Cụ thể, Cương lĩnh 2010 vẫn giữ khung cơ bản của Cương lĩnh 91 như dự thảo, có bổ sung sửa đổi đôi chút, hoặc thêm bớt, hoặc đảo từ,... chủ yếu bây giờ là đi vào nhân sự thôi.

 Hoặc, Cương lĩnh 2010 phải vượt qua cái khung cơ bản của Cương lĩnh 91 như dự thảo, để xây dựng một Cương lĩnh 2010 mới đáp ứng yêu cầu của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới toàn diện, triệt để, cả kinh tế và chính trị, tức là hoàn thiện ở mức độ cao hơn, mức độ SỬA LỖI HỆ THỐNG.

Ông chọn khuynh hướng thứ hai, nghĩa là “SỬA LỖI HỆ THỐNG”. Phải chăng trong quá trình nhận thức của ông, ông chỉ thấy rằng tình trạng Đất Nước suy thoái về mọi mặt hiện nay là do LỖI HỆ THỐNG? Tôi cho rằng ông đổ lỗi hệ thống là không đúng. Vì thế, tôi viết thư không niêm này để ông và những người đồng quan điểm với ông suy nghĩ lại thì mới mong giải được bài toán Đất Nước.

Sau 5 năm mãn nhiệm vai trò Chủ tịch Quốc Hội, ông đã lùi vào bóng tối. Bỗng nhiên trước ngày  Đại Hội XI được ký giả Thu Hà của Tuần Việt Nam phỏng vấn, tên tuổi của ông nổi bật trở lại. Sở dĩ ông được các nhà tranh đấu dân chủ trong và ngoài nước đánh giá cao, vì ông là người từng ở cương vị lãnh đạo mà dám nêu lên khuyết điểm của Đảng và của mình, một điều hiếm thấy ở các lãnh đạo khác. Ông được mối thiện cảm của dư luận giống như cựu Thủ tướng Võ văn Kiệt đã được. Tôi cũng đánh giá ông cao hơn hẳn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một người được thế giới coi là anh hùng Điện Biên Phủ mà ngoan ngoãn thủ phận “đặt đâu ngồi đấy” theo lệnh của Lê Duẩn, không xứng đáng bằng một sĩ quan cấp dưới như Đại tá Trần Anh Kim.

Khi muốn chữa lành con bệnh, nhất định người y sĩ phải dùng mọi phương cách khám nghiệm để tìm cho ra nguyên nhân nào gây nên bệnh. Cuộc thảo luận này là đi tìm căn bệnh, nên không có vùng nào gọi là vùng nhạy cảm hay vùng cấm kỵ không được phép đề cập tới. Những gì tôi sắp sửa trình bày với ông dưới đây không hề nhằm chỉ trích cá nhân ông, mà là nhận định của riêng tôi sau khi tìm hiểu Việt Nam lãnh hậu quả tai hại ghê gớm như ngày hôm nay là do nguyên nhân tại sao.

Theo tôi, Hệ thống hay Cơ Chế hay Bộ máy là do CON NGƯỜI tạo ra. Cha đẻ Đảng Cộng Sản Việt Nam là ông Hồ Chí Minh, cái Bí danh mà ông Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Tất Thành đã đoạt của nhà cách mạng Hồ Học Lãm, là người dựng lên bộ máy cai trị. Từ điểm này trở đi, tôi sẽ dùng danh xưng Hồ Chí Minh để chỉ ông Nguyễn Tất Thành. Thân thế của ông Hồ Chí Minh ra sao thì đã có nhiều tài liệu lịch sử phổ biến rồi. Tôi chỉ tóm tắt những điều quan trọng gây hậu quả tai hại.

Lịch sử cho biết ông Hồ không phải là nhà ái quốc xuất dương tìm đường cứu nước như các Cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan văn Trường … Ông Hồ đã tự tay viết đơn xin Thực dân Pháp cho đặc ân vào học trường Thuộc Địa để phục vụ Thực dân. Nếu được Thực dân Pháp chấp thuận, ông Hồ không trở thành đảng viên đảng cộng sản.

– Ông Hồ là người nói dối đã được nhiều nhà viết sử chứng minh. Nếu ông An không tin thì ông hãy cho tôi biết để tôi trưng dẫn trong một thư sau. Vì bản chất dối trá, lừa đảo, ông Hồ đã tạo ra một bộ máy cai trị lừa đảo. Hiến Pháp năm 1946 do ông Hồ viết ra có đầy đủ các quyền dân chủ giống như các nước dân chủ Tây Phương, nhưng chỉ với mục đích tuyên truyền đánh lừa nhân dân và dư luận quốc tế.

– Ông Hồ là người tráo trở, phản bội, hung ác. Bán nhà cách mạng Phan Bội Châu cho Thực dân Pháp với giá 100 ngàn đồng để tiêu vào việc Đảng, đồng thời để triệt hạ một đối thủ chính trị có nhiều uy tín với quốc dân. Một mặt hô hào đoàn kết, mặt khác sai bộ hạ thủ tiêu người yêu nước như các ông Trương Tử Anh, Lý Đông A, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ … Được bà Cát Thành Long Nguyễn thị Năm nuôi dưỡng, nhưng khi xong việc thì xuống tay giết chết ân nhân của mình. Dụ dỗ các nhà trí thức lỗi lạc như Trần Đức Thảo, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Liên, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Khắc Viện, Phan Khôi … tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng khi “cách mạng thành công” thì bạc đãi người trí thức một cách tàn tệ. Không những thủ tiêu người quốc gia, ông Hồ còn ám hại những người thờ chủ nghĩa Mác Lê theo xu hướng Trotsky.

– Ông Hồ là người vô trách nhiệm. Không kể về cuộc đời riêng tư lang chạ hết người đàn bà này đến người đàn bà khác, ông Hồ trốn tránh trách nhiệm làm cha khi giao con đẻ của mình (Nguyễn Tất Trung) cho Vũ Kỳ nuôi nấng và sai Trần Quốc Hoàn giết Nông thị Xuân, người đầu gối tay ấp của mình. Đối với giọt máu của mình mà ông Hồ không coi ra gì, ông tỏ ra yêu nước thương nòi chỉ là trò đạo đức giả. Sau khi thất bại chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, một tội ác long trời lở đất, ông Hồ không nhận trách nhiệm của mình, mà lại đẩy Võ Nguyên Giáp ra xin lỗi nhân dân; đồng thời truất chức Tổng Bí thư Trường Chinh và Thứ trưởng Hồ Viết Thắng, phụ trách chiến dịch.

Ông Hồ là người ngoan cố, nhắm mắt đi vào con đường sai lầm. Năm 1956 Kremlin phái sứ giả Mikoyan sang Hà Nội giải thích “Tân chính sách chung sống hòa bình” của Đệ Tam Quốc Tế, tức là không còn đòi đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản nữa. Ông Hồ vẫn chỉ thị tiếp tục tiến hành chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất để giết hại thêm nhiều nạn nhân không đáng bị đánh giá là địa chủ. Nỗi đau oan ức trong quần chúng chưa hàn gắn xong, ông Hồ tiếp tục rập khuôn theo Mao Trạch Đông mở ra chiến dịch “Bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng) để tiêu diệt nốt những trí thức, văn nghệ sĩ nào dám lên tiếng đòi hỏi tự do sáng tác.

– Ông Hồ thi hành chính sách hộ khẩu (miếng ăn) và chính sách khủng bố để nhân dân cả nước trở nên hèn hạ, mất nhân cách. Cổ nhân dạy rằng “đói thì đầu gối phải bò” hoặc “bần cùng sinh đạo tặc”. Do đó nhiều nhà trí thức vì đói quá phải trở thành bồi bút, còn một số ít trí thức kiên cường giữ nhân cách thì bị đầy đọa, hành hạ cho tới chết một cách nhục nhã! Vì vậy, chung quanh ông Hồ chỉ tồn tại những phần tử bất tài, nịnh bợ, vô liêm sỉ phục vụ để dần dà kế tục ông trong vai trò lãnh đạo Đất Nước. Chưa đủ hài lòng với sự tâng bốc của đệ tử, ông Hồ còn giả danh Trần Dân Tiên để ca tụng chính mình!

– Ông Hồ không phải là người có niềm tự tin, vì ông không dám mở cuộc trưng cầu dân ý để biết quần chúng ủng hộ mình đến mức nào. Ông chỉ là một nhà độc tài làm công cụ cho cộng sản quốc tế.

Sở dĩ dân tộc ta trường tồn trước tham vọng đồng hóa của nòi giống Hán là nhờ tinh thần uy vũ bất khuất “Châu chấu đá xe”. Ông Hồ dùng mọi thủ đoạn để triệt tiêu khí phách kẻ sĩ, bắt buộc toàn dân thần phục mình là nguyên nhân đưa đến mất nước!

Đó là nói sơ lược về bản tính cá nhân của ông Hồ – người CHA ĐẺ cơ chế Đảng, tức là HỆ THỐNG – trong đường lối cai trị xứ sở bằng mưu mẹo, tiểu xảo, thủ đoạn hiểm ác. Có thể nói Việt Nam dưới sự cai trị của ông Hồ có hai bộ luật: Một bộ luật thành văn gọi là Hiến Pháp chỉ có tính cách trang trí và một bộ luật bất thành văn được giải thích tùy tiện sao cho cái lợi thuộc về phía người cầm quyền bằng cái gọi là Tòa Án Nhân Dân mà người xử chưa từng học ngành luật! Cộng thêm trò bí mật thủ tiêu!

Về phương diện đối ngoại, ông Hồ không phải là người có tinh thần độc lập dân tộc. Ông từng thú nhận rằng ông có thể sai, nhưng đồng chí Staline, Mao Trạch Đông không bao giờ sai. Ông cũng thú nhận ông không có tư tưởng. Chủ tịch Mao Trạch Đông đã đảm trách toàn diện mặt trận tư tưởng rồi.

Ông Hồ không có kiến thức, vì ông đi theo con đường cộng sản là đẩy nhân dân ta vào chiến tranh triền miên. Tại sao? Bởi vì chủ nghĩa cộng sản chủ trương “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”, “nhuộm đỏ toàn cầu”; tất nhiên vì sinh tồn nên phe tư bản phải chống lại. Do đó chiến tranh giữa hai phe là điều không thể tránh được. Trong thực tế, hai đầu nậu của cộng sản và tư bản không trực tiếp chạm trán nhau. Họ chỉ đẩy đàn em chém giết lẫn nhau để thí nghiệm vũ khí. Cho nên Lê Duẩn từng tự thú nhận “mình đánh Mỹ đây là đánh cho Trung Quốc” trong cuộc xâm lăng Miền Nam là một chứng cớ rõ ràng. Ông Hồ chấp nhận sứ mạng làm người lính tiền phong của cuộc cách mạng toàn thế giới là chấp nhận làm đầy tớ một đại cường. Ngoài ra, ông Hồ kết nghĩa anh em “môi hở răng lạnh” với kẻ thù truyền kiếp luôn luôn có ý đồ đồng hóa dân ta càng chứng tỏ ông là người không có hiểu biết lịch sử. Trong bang giao quốc tế, không bao giờ có bạn muôn đời hoặc kẻ thù truyền kiếp. Đồng Minh bao giờ cũng có tính cách giai đoạn khi hai nước có quyền lợi hổ tương. Hoa Kỳ và Liên Xô từng là Đồng Minh trong Đệ Nhị Thế Chiến, nhưng sau đó trở thành kẻ thù không đội trời chung là một chứng minh. Chắc chắn có người trí thức ở Miền Bắc thời bấy giờ biết trước cái nguy cho tương lai Việt Nam khi nhìn thấy ông Hồ kết nghĩa “môi hở răng lạnh” với Trung Quốc, nhưng không dám nói ra vì sợ sự trả thù tàn bạo của ông Hồ. Liên Xô và Trung Cộng từng dàn quân hai bên bờ Hắc Long Giang (biên giới ngăn đôi lãnh thổ Nga – Trung Cộng) để thanh toán nhau; đài phát thanh hai bên chửi rủa, mạt sát nhau thậm tệ, nhưng ông Hồ vẫn mù quáng tin tưởng vào tình đoàn kết thắm thiết anh em trong khối Xã Hội Chủ Nghĩa. Sự kiện cựu Thủ tướng Phạm văn Đồng tuân lệnh ông Hồ gửi thư cho Chu Ân Lai xác nhận các đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc đã được phanh phui gần đây. Điều đó chứng tỏ rằng ông Hồ sẵn sàng bán nước.

Thưa ông Cựu Chủ tịch Quốc hội,

Tôi dám đoan chắc với ông rằng những người đi làm cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị Thực dân Pháp như ông Hồ và các đồng chí của ông ta không đủ trình độ kiến thức để hiểu cái triết lý chính trị của Karl Marx và Lénine. Ông Hồ vừa là người không có tầm nhận thức, vừa không có cái tâm thành với xứ sở, với đồng bào. Ông có quá nhiều hành động mờ ám, tàn ác, khuất tất bị tay chân bộ hạ chung quanh nhìn thấy, nên cuối đời ông bị những Lê Duẩn, Lê Đức Thọ khống chế như ông Nguyễn văn Trấn đã tiết lộ trong cuốn “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội”. Thậm chí ước nguyện của ông để lại trong di chúc là được hỏa thiêu và tro tàn được rải khắp bờ cõi Việt Nam cũng không thành.

Chủ nghĩa cộng sản không bao giờ là chủ nghĩa ưu việt như sự tuyên truyền. Bởi vì nếu nó ưu việt thì người cộng sản không bao giờ phải cần đến các thủ đoạn đánh lừa, tráo trở, dùng khủng bố trắng, khủng bố đen bằng bạo lực để đàn áp, thủ tiêu tiếng nói phản biện. Các nhà trí thức, văn nghệ sĩ trong Phong trào Nhân Văn chỉ đòi quyền tự do sáng tác, chứ không có một lời nào chống lại chủ nghĩa cộng sản, mà họ đã bị đầy đọa kinh khiếp rồi. Đảng Cộng Sản chỉ chấp nhận những bài văn, bài thơ, bài nhạc tâng bốc, ca ngợi, nịnh bợ các lãnh tụ Staline, Mao Trạch Đông và Hồ Chủ Tịch mà thôi!

Thi sĩ Phùng Quán làm hai bài thơ “Chống Tham Ô Lãng Phí” và “Lời Mẹ Dặn” không hề có một câu, chữ nào chống chủ nghĩa Marx là đã bị tàn đời. Trần Dần viết bài thơ “Nhất Định Thắng”; Cụ Phan Khôi viết truyện “Ông Năm Chuột”; sinh viên Bùi Quang Đoài – chủ bút tờ Đất Mới – phê bình bài nghị luận “Tính Nhân Văn trong Chủ Nghĩa Karl Marx” của Thạc sĩ Triết học Hoàng Xuân Nhị khiến ông Nhị không thể trả lời; Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường đọc bài tham luận “Quan Điểm Lãnh Đạo” chỉ nói cai trị Đất Nước cần phải dựa vào luật pháp. Tựu trung, họ chỉ xin một chút tự do, xin góp ý xây dựng, không đòi lật đổ chế độ. Thế mà những văn nghệ sĩ, học giả, trí thức tinh hoa hàng đầu của Miền Bắc gồm 304 người đều bị Đảng trừng trị bằng nhiều biện pháp ghê gớm. Ông Hồ đã biến một nửa nước thành nhà tù vĩ đại. Toàn thể nhân dân Miền Bắc đều phải chịu số phận của đàn cừu.

Người ta nói rằng: “Người thầy thuốc mà lầm thì giết một con bệnh. Người làm chính trị mà lầm thì giết chết một thế hệ. Người làm văn hóa mà lầm thì giết chết nhiều thế hệ”. Ông Hồ Chí Minh vừa làm chính trị, vừa làm văn hóa bằng những tiểu xảo, thủ đoạn mà tôi đã trình bày ở trên, khiến cho Đất Nước lãnh hậu quả tại họa nhãn tiền hiện nay mà ai ai cũng trông thấy. Ông Hồ đã tạo ra những nhà lãnh đạo cộng sản kế tục sự nghiệp của ông Hồ đều mang đầy đủ tính chất “di truyền” của CHA GIÀ, họ đều dùng sự tàn ác, lừa đảo, dối trá, phản phúc, độc tài để trị dân như ông Hồ.

Dĩ nhiên sau khi cái nôi cộng sản Liên Xô và chư hầu Đông Âu sụp đổ, CSVN mất chỗ dựa, nên Đảng đành bắt tay với tư bản để sống còn, nhưng bản chất vẫn là những kẻ láu cá vặt. Biết Hoa Kỳ cần Việt Nam làm đồng minh chiến lược chống lại sự bành trướng của Trung Cộng, lãnh đạo Đảng dùng dân mình làm con tin để mặc cả. Nghĩa là nếu Hoa Kỳ áp lực gắt gao buộc Việt Nam tôn trọng nhân quyền một cách nghiêm chỉnh thì Đảng sẽ ngả về phía Trung Cộng! Vì vậy Hòa Kỳ chỉ phàn nàn chiếu lệ.

Cuộc hội thảo của hai mươi nhà trí thức có địa vị cao trong Đảng do Cựu Phó Thủ tướng Trần Phương chủ trì, chẳng một ai có thể chỉ ra cái hình thù của mô hình Xã Hội Chủ Nghĩa là gì, không phải vì họ không biết, nhưng vì họ sợ phải nói ra một sự thật quá sức phũ phàng! Đâu cần phải là nhà xã hội học mở cuộc nghiên cứu để giải đáp Chủ Nghĩa Xã Hội là gì? Dân gian đã nói từ lâu bốn chữ Xã Hội Chủ Nghĩa là Xuống Hàng Chó Ngựa, Xuống Hố Cả Nước, Xếp Hàng Cả Ngày, … Còn nền Văn hóa Xã Hội Chủ Nghĩa là như thế nào thì chỉ cần đọc những câu ca dao, câu vè trong dân gian là biết ngay. Nếu ông Cựu Chủ tịch chưa hề đọc các câu ca dao thời cộng sản thì hãy cho tôi biết, tôi sẽ gửi cho ông xem. Nhiều câu ca dao phản ảnh tình trạng xã hội khi đọc lên nghe thê thảm muốn khóc được.

Ngày xưa các cụ khuyến cáo để người đời giữ phẩm cách bằng câu ca dao: “Trăm năm bia đá cũng mòn; ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”. Ngày nay không còn ai quan tâm đến đạo đức, thanh danh thì dân gian đổi câu ca dao ấy như sau: “Trăm năm bia đá cũng mòn; bia chai cũng vỡ, chỉ còn bia ôm”! Cho nên Đảng Cộng sản duy trì Ban Văn Hóa Tư Tưởng hay Ban Tuyên Giáo thì quả là một sự mỉa mai đến độ khả ố. Thiết tưởng chưa có tập đoàn lãnh đạo nào có bộ mặt dầy, trâng tráo, dối trá, lừa đảo, vô trách nhiệm như cái tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay. Trả lời ông Võ Nguyên Giáp về vụ Bauxite Tây Nguyên, Nguyễn Tấn Dũng nói đó là “chủ trương lớn của Đảng”. Nhưng nếu được hỏi Đảng là ai thì không một người nào biết Đảng là ai cả. Vụ thất thoát 4, 5 tỷ đô-la của công ty Vinashin hòa cả làng, chẳng ai chịu trách nhiệm. Rặt một phường ăn cắp!  

Lãnh tụ Hồ Chí Minh phạm vào tội ác tày trời trong cải cách ruộng đất mà không hề hối hận, không nhận trách nhiệm, lại tiếp tục phạm các tội ác tiếp theo. Miền Bắc xua quân vào Nam “giải phóng dân tộc”, khiến cho cái cột đèn biết đi cũng bỏ nước ra đi. Thảm họa thuyền nhân làm rúng động lương tâm nhân loại, Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tỉnh bơ, coi nạn nhân là bọn đĩ điếm, bồi bếp chạy theo liếm gót giày đế quốc ngoại bang để hưởng bơ thừa sữa cặn. So sánh cung cách ứng xử của ông Hồ với tập đoàn lãnh đạo hiện nay, người ta có thể kết luận: “Cha nào con nấy y hệt như nhau!”. Cho nên, Đảng CSVN còn bắt cán bộ, học sinh, sinh viên học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thì nhân dân Việt Nam không bao giờ ngóc đầu lên được!

Thưa ông Cựu Chủ tịch Quốc hội,

Hai mươi năm trước, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ dưới bút hiệu Hà Sĩ Phu đã viết một loạt bài tham luận chính trị để chứng minh chủ nghĩa Mác Lê phản khoa học, phản tiến bộ. Đó là sự trái ngược giữa thực tiễn và lý thuyết chỉ đưa đến nghèo nàn, lạc hậu. Ông Hà đề nghị “đằng sau, quay” để tránh cho dân tộc khỏi xuống hố. Đảng không thèm nghe, lại trù dập, bỏ tù. Mới đây, ông Hà Sĩ Phu viết bài góp ý với nhà sử học Dương Trung Quốc có đoạn như sau: “Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hoá như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh váo rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật lại thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ? Tất cả được bọc trong một bong bóng xà phòng khổng lồ ảo thuật, trông thấy hết nhưng để mà cười thôi!” để mô tả hậu quả của nền văn hóa vô sản hay văn hóa đảng do ông Hồ Chí Minh du nhập từ ngoại quốc và áp đặt lên dân tộc Việt Nam đã tiêu diệt cái “thế hệ vàng” được xây dựng từ nền giáo dục quốc học và nền văn minh phương Tây do thực dân Pháp mang lại. Đứng trước hiện tượng xã hội băng hoại ghê gớm như ông Hà Sĩ Phu mô tả ở trên, người ta không khỏi ngạc nhiên vì sao còn có những lão thành cách mạng tôn vinh ông Hồ là vị Cha Già Dân Tộc? Tôi xin gửi kèm theo đây bài thơ “Dòng Sông Rửa Tội” (*) của nữ luật sư Lê Thị Công Nhân được đăng trên Tập San Tổ Quốc số 105 do nhà giáo Nguyễn Thượng Long thực hiện trong nước để ông Cựu Chủ tịch thấy cái di sản do ông Hồ để lại cho hậu thế. Cả một đất nước tan hoang, điêu đứng vì hậu quả do chính ông Hồ gây ra. Tại sao cái Đảng này vẫn bắt cả nước phải học tập tư tưởng và noi gương đạo đức của ông Hồ mà không thấy đảng viên dám lên tiếng phản đối?  

Ngôi nhà Việt Nam dột từ trên nóc dột xuống, cột kèo đều lung lay và nền móng cũng bị rệu rã. Ông Cựu Chủ tịch từng giữ chức Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương, tức là một trong những kiến trúc sư bảo trì ngôi nhà ấy, mà khi có đầy đủ quyền hành trong tay ông không chịu sửa sang. Nay ông đã nghỉ hưu, ông đề nghị sửa thì ai sẽ sửa đây? Theo ông, liệu có thể sửa chữa một ngôi nhà mục nát như thế được không? Hay là cần nhân sự mới, nguyên vật liệu mới để dựng lên ngôi nhà khác?

Mấy tuần nay, tình hình ở các nước Trung Đông rộ lên những cuộc biểu tình đòi dân chủ, tự do. Nhà độc tài của xứ Tunisie, Ai Cập đã đào tẩu. Nhiều quốc gia khác đang sục sôi. Người Việt Nam trong và ngoài nước đua nhau đặt câu hỏi liệu ngọn lửa dân chủ tự do có lây lan sang Việt Nam được không?

Liên Xô và các chư hầu cộng sản Đông Âu đã đổ vì lãnh đạo và nhân dân các nước này có gốc văn minh Thiên Chúa giáo. Trung Cộng trong vụ Thiên An Môn không đổ vì lãnh đạo Tầu Cộng là con cháu của Tần Thủy Hoàng vốn coi mạng người là cỏ rác! Lãnh đạo cộng sản Việt Nam không phải con cháu Tần Thủy Hoàng, nhưng đều đã bị Tầu Cộng cấy sinh tử phù cả rồi! Có thể Quân Đội Việt Nam không bắn vào nhân dân nổi dậy, nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có sẵn lính Tầu đóng chốt ở  Tây Nguyên sẽ cầm đầu bọn “xã hội đen” do Đảng nuôi dưỡng bấy lâu nay sẵn sàng ra tay tàn sát! Tại sao tôi nghĩ như vậy, ông Cựu Chủ tịch có biết không?

Tại vì Trung Cộng rất lo sợ nhân dân Việt Nam nổi dậy đòi tự do dân chủ khiến cho nhân dân Trung Cộng bắt chước noi theo. Người Tầu biết dân Việt Nam có truyền thống “kẻ thù nào cũng đánh thắng”, từng bị quân ta đánh đuổi nhiều phen, cho nên các “Khổng Minh con” thời nay bày ra kế gài binh lính của mình giả bộ làm công nhân khai thác mỏ bauxite túc trực ở Tây Nguyên để phòng khi có biến!

Có người nói chỉ khi nào bên Tầu có loạn thì may ra dân mình mới thừa cơ nổi dậy. Tôi không tin. Bởi vì dân Tầu là dân “chạp phô” có máu cam phận an phận làm ăn buôn bán. Lịch sử Tầu còn để lại đó: Nước Tầu từng bị Mông Cổ, Mãn Thanh đô hộ mà hiếm thấy dân Tầu dám nổi dậy như dân ta.

Hôm kia tôi đọc thấy ông lại trả lời cuộc phỏng vấn khác với nhà báo Thu Hà. Ông đề nghị thay đổii mấy điều khoản trong Hiến Pháp 92. Tôi nhắm không được đâu ông Cựu Chủ tịch ạ! Dù cho có bỏ Điều 4 Hiến Pháp đi nữa thì mấy ông con “Bác Hồ” chẳng coi ra gì, vì họ có cách ngồi trên luật pháp!

Theo tôi, chỉ còn có cách duy nhất là các lão thành cách mạng trót dại tin theo lời “Bác Hồ”, đã đem xương máu của mình dựng lên cỗ máy này, phải hy sinh thôi! Giống như trước đây tôi đã đề nghị là các cụ hãy mang cái mạng già của mình chống gậy ra vây kín lăng “Bác Hồ” ở quãng trường Ba Đình và đòi Bác trả lại quyền tự do dân chủ cho dân. Các Cụ lúc còn trẻ dám tự hào đi làm lịch sử bằng gậy tầm vông. Chẳng lẽ tới giờ này đều rụt vòi hết thảy sao? Ngồi nhà chửi đổng mà không biết xấu hổ với thế hệ Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức … hay sao?

Tôi đề nghị ông Cựu Chủ tịch dũng cảm liều mạng đứng ra lãnh đạo các “Cụ lão thành cách mạng” một lần nữa đứng lên giành lại quyền làm người cho con cháu, thì sẽ có hàng triệu con cháu nối gót các Cụ. Nếu bị xe tăng nghiền nát hay Công An xã hội đen đánh đập thì Quý Cụ cũng xứng đáng với cái tội đã nhắm mắt đi theo “Bác Hồ” hại nước hại dân. Quý Cụ hy sinh lần này sẽ tạo nên trang sử vẻ vang cho giống nòi! Việt Nam là xứ sở ngược đời như bức tranh Hà Sĩ Phu vẽ ở trên. Tuổi trẻ Trung Đông nổi lên làm cách mạng Hoa Lài. Tuổi già Việt Nam làm cách mạng Xe Lăn để hậu sinh nối gót!

Phong hóa Việt Nam suy đồi đã đành. Dân Việt Nam đang chết dần chết mòn vì môi trường sống đang bị nhiễm độc. Các Cụ kéo dài cuộc sống vô vị cho tới ngày nằm liệt giường như Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì ích gì? Với tấm lòng thành khẩn, tôi cống hiến suy nghĩ này là để hồi phục thanh danh cho những chiến sĩ cách mạng Mùa Thu, những chiến sĩ tự hào đuổi Pháp, chống Mỹ cứu nước! Những đảng viên cộng sản Liên Xô và Đông Âu đã đánh đổ chế độ cộng sản. Bây giờ là thời điểm của các nhà cách mạng cộng sản lão thành đứng lên đánh đổ chế độ hiện hành! Đã trót tạo nên nhân thì phải có trách nhiệm thu dọn hậu quả. Đừng chờ tuổi trẻ làm thay cho mình!

Tôi mong ông Cựu Chủ tịch dành thời giờ suy nghĩ về đề nghị của tôi và trông chờ sự trả lời của ông với quốc dân. Xin kính chúc ông Cựu Chủ tịch và gia quyến dồi dào sức khỏe. Hẹn ông thư sau.

Trân trọng,

Bằng Phong Đặng văn Âu

 

(*)

Dòng sông rửa tội

 

Lấy một nắm đất

trét lên mặt mình

ở đất nước tôi mọi người đều làm / phải làm như thế

để ca ngợi Hồ Chí Minh

 

Trong nấm mồ như thể

khó mà lạnh lẽo được hơn

xác ướp nghĩ gì?

hỡi ông !

 

Khi linh hồn còn lang thang khắp nơi trong vũ trụ mông lung,

chờ ngày phán xét cuối cùng

thì ông đã trót được bọn chúng phong thánh mất rồi

còn đâu,

 

Hãy từ chối đi, nếu còn có thể

Vì sự sám hối sẽ cứu rỗi được ông

dù ông không còn cơ hội để sám hối trước chúng tôi

nữa rồi,

 

Tôi nhìn nấm mồ của ông,

và tôi khóc

vì tôi, và cả dân tộc này, cùng với cái đảng cộng sản chết tiệt của ông

đã bị chôn vùi vào đó cả rồi

bằng nhiều cách khác nhau

nhưng thời gian thì có thực

đó là tuổi thơ của tôi,

đó là tương lai của đảng cộng sản

và hiện tại của đất nước này

đã được

nhuộm đỏ nhuộm hồng, nhuộm bằng máu của nhau

 

Tôi thường đi tìm một dòng sông

chảy ra từ những con suối

khởi thủy trong tận rừng sâu

 

Tôi ước ao được tắm mình vào đó

được úp mặt xuống dòng nước mát trong tinh sạch đó

để gột rửa bùn đất

và máu

và lửa

trên cơ thể tôi, trên khắp dân tộc tôi

và ở mọi chốn cùng của quê hương Việt Nam

 

Yêu dấu thương đau !

 

Nhưng mọi dòng sông đều ô nhiễm cả rồi

vì than bùn bô xít

vì nước thải độc hại

vì sự phát triển

vì thuốc trừ sâu

và vì những chiến công

lẫy lừng năm châu bốn biển

(cứ tạm thời vu cho là thế !)

 

Anh phải giết em thôi em yêu dấu

Con phải đấu tố cha thôi cha kính yêu

Còn mẹ ư, mẹ để làm gì?

Hàng xóm và bạn hữu ư

Xin hãy quên đi

 

Tất cả vì lý tưởng cộng sản vì chủ nghĩa xã hội

Vì Mác Lê nin vì Mao Trạch Đông

Và Xtalin nữa

Mà máu dân mình đã nhuộm đỏ những dòng sông

 

Tôi tìm mãi dù đã rất cố công

Với đôi tay và bàn chân nhỏ bé

Xước máu đỏ hồng

Chẳng có gì ngoài một cõi mênh mông

Của tham tàn cùng cực

Dối trá bất công

 

Tôi muốn trút bỏ tất cả

Mọi y phục và những suy nghĩ ở trong lòng

Để được tắm mình trong một dòng sông

Chảy ra từ đại ngàn u tịch

Là tình yêu, thứ tha

Công lý và lẽ thật

Khởi đầu, sau cùng và duy nhất.

Một lần

cho tất cả

hồi sinh

 

Này hỡi Hồ Chí Minh

và sư phụ là Mao Trạch Đông

các người còn sám hối được nữa không ?

e rằng

Không !

 

Lê-thị-Công-Nhân.

 

 

Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Samedi 22 janvier 2011 6 22 /01 /Jan /2011 11:07
  
Hiện nay có 9 nước đang sở hữu hàng không mẫu hạm  là: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Brasil, Italia, Ấn Độ và Thái Lan. 

Hàng không mẫu  của Mỹ

   

   Mỹ đang giữ vị trí đầu trong danh sách những cường quốc hkmh. Đáng kể nhất là serie gồm 10 chiếc hkmh  hạt nhân lớp Nimitz. Tàu  Nimitz được coi là những tàu quân sự lớn nhất trên thế giới. Chiếc tàu đầu tiên được mang tên của chính lớp tàu Nimitz này, còn các tàu sau đó, lần lượt được mang tên của các Tổng thổng nước Mỹ như Dwight Eisenhower, Theodore Roosevelt, Abraham Lincoln, George Washington, Ronald Reagan và các tổng thống khác. Và ngày 10/1/2008, lực lượng Hải quân Mỹ được bổ sung hkmh  thứ 10 và cũng là chiếc cuối cùng mang tên George H.W. Bush-tổng thống thứ 41 của nước Mỹ, trong seri gồm 10 chiếc hkmh  hạt nhân lớp Nimitz.


  

Hàngkhông mẫu hạm lớp Nimitz của Mỹ.



Tàu  George H.W. Bush trị giá 6,2 tỷ đô la. Sau khi hoàn tất tất cả các cuộc thử nghiệm, Uss George H.W. Bush sẽ đồn trú tại căn cứ hải quân Norfolk, bên bờ Đại Tây Dương của Mỹ. Boong tàu có thể làm bến đỗ cho từ 98 máy bay và trực

 

thăng chiến đấu..ImageShack, share photos of aircraft carrier, uss george h.w. bush, uss george bush, uss george h w bush, share pictures of aircraft carrier, uss george h.w. bush, uss george bush, uss george h w bush, share video of aircraft carrier, uss george h.w. bush, uss george bush, uss george h w bush, free image hosting, free video hosting, image hosting, video hosting.

Người anh của USS George H.W. Bush, chiếc USS Georgia Washington dài 332 thước, nặng 97.000 tấn, có sức chứa hơn 5.500 người và 70 phi cơ chiến đấu và trực thăng. USS George Washington rất hiện đại, trang bị hai lò phản ứng hạt nhân cho phép tàu hoạt động trong 18 năm mà không cần tiếp tế nhiên liệu.

Con tàu quân sự lớn nhất thế giới USS Ronald Reagan là một thành phố khổng lồ. Khi chở đầy, con tàu này sẽ "thế chỗ" của gần 95.000 tấn nước, tốc độ cao nhất là hơn 30 hải lý, chạy bằng năng lượng hạt nhân và có thể chạy liên tục trong suốt 20 năm mới phải nạp năng lượng.

USS Ronald Reagan tương đương với toà nhà Empire State với chiều cao 333, sống neo rộng 34 mét và nơi đáp máy bay rộng tới 77 mét. Phần sàn tàu dành cho máy bay rộng tới 18.000 m2. USS Ronald Reagan có thể chở hơn 5.500 thủy thủ và hơn 80 chiếc máy bay.


 

Tàu quân sự lớn nhất thế giới USS Ronald Reagan.


Ngoài ra một số hkmh cũ hơn nhưng vẫn đang hoạt động tốt trong lực lượng Hải quân Mỹ.

Tàu  USS Constellation được hạ thủy ngày 27/10/1960. Với tổng chiều dài 323,8 mét, chiều rộng sàn sân bay là 76,8 mét, diện tích sàn sân bay 18.211,5 m2, trọng lượng nước rẽ của tàu là 82.200 tấn. USS Constellation có thể mang 85 máy bay. USS Constellation đã phục vụ trên 30 năm và hoạt động trên khu vực rộng, từ ngoài khơi Việt Nam đến vịnh Oman trên Ấn Độ Dương.

Sau cuộc nâng cấp sàn sân bay  và nâng cấp máy móc  năm 1975, USS Constellation được trang bị S-3A Viking (chống tàu ngầm) và máy bay chiến đấu F-14 Tomcat.

Năm 1982, hàng không mẫu hạm trở về xưởng đóng tàu ở Bremerton, Washington. Đến năm 1984, USS Constellation đã được hiện đại hoá hoàn toàn. Nó có thể mang theo F/A-18 Hornet, máy bay chiến đấu của hải quân Mỹ.

Tháng 2/1990, USS Constellation rời San Diego (California), trở lại East Coast để trải qua cuộc đại tu kéo dài 3 năm. Chương trình kéo dài hoạt động (SLEP) trị giá 800 triệu USD hoàn tất tại xưởng đóng tàu Hải quân Philadelphia tháng 3/1993 giúp tàu này có thể hoạt động thêm 15 năm nữa so với thiết kế ban đầu. USS Constellation ngừng hoạt động vào tháng 9/2003.

Tàu  USS Kitty Hawk là một trong hai "siêu hạm" của Hải quân Mỹ.   

   Chiều dài là 319 mét, chiều rộng sàn sân bay là 76,8 mét, trọng lượng nước rẽ của tàu là 82.200 tấn. Di chuyển với tốc độ 35 hải lý một giờ và mang 85 máy bay. Ngày 21/3/2002, USS Kitty Hawk là hkmh  đầu tiên của Mỹ thực hiện cuộc thử bắn hoả tiển với RAM (Hệ thống hoả tiển  Khung máy bay quay).

Lịch sử USS Kitty Hawk gần như song song với hoạt động hàng không của hải quân Mỹ suốt 37 năm qua. Năm 1962, USS Kitty Hawk rời khỏi cảng San Diego lần , thực hiện cuộc hải hành  Tây Thái Bình Dương (WESTPAC). Kể từ đó, Kitty Hawk và một loạt hkmh  khác đã hoàn thành 18 cuộc dàn quân, hỗ trợ các chiến dịch, trong đó có chiến tranh Việt Nam, cuộc khủng hoảng con tin Iraq, chiến dịch Vãn hồi Hy vọng ở Somalia...

    USS Kitty Hawk đã trải qua ba lần đại tu ở Bremerto, Washington vào năm 1977, 1982 và 1998. Tuy nhiên, giai đoạn bảo trì  quan trọng nhất lại là chương trình kéo dài hoạt động ở xưởng đóng tàu Hải quân Philadelphia năm 1987.. Kết quả của cuộc đại tu kéo dài 4 năm này là tuổi thọ của USS Kitty Hawk tăng từ 30 năm lên 50 năm. Kitty Hawk bảo đảm  tầm bắn, khả năng chịu đựng, tính linh hoạt tiêu chuẩn.

 

BÀI ĐỌC THÊM

Trung cộng có hkmh “rác thải” của Ucraina?

 Hãng tin AP ngày 19/1 đưa tin Trung cộng  sắp đưa vào sử dụng chiếc hkmh đầu tiên để huấn luyện phi công. Đây vốn là một chiếc tàu “rác thải” của Ucraina.

Đây là chiếc hkmh cũ mang tên Varyag được Trung cộng  mua lại của Ucraina từ năm 1998. Chiếc tàu này đã được Trung cộng  kéo về cảng Đại Liên và  sửa chữa.

Varyag đã được Trung cộng  khôi phục lại tất cả các khoang làm việc, các khoang sinh hoạt cho thủy thủ, hệ thống lái, hệ thống dẫn đường và phát điện. Việc sửa chữa hệ thống thang máy và boong tàu đang trong giai đoạn hoàn tất.

  Chỉ riêng công việc khôi phục các hệ thống nội thất đã mất khoảng 4 năm. Một viên  chức quốc phòng Trung công  giấu tên nói: “Đây quả là một dự án khổng lồ. Việc sửa chữa Varyag gần như là xây dựng một chiếc hkmh mới”.

Sau khi việc sửa chữa được hoàn thành, Trung cộng  sẽ đưa chiếc hkmh “rác thải” này vào hoạt động và  đào tạo huấn luy5ên  các kỹ thuật viên, những người sẽ tham gia vào dự án chế tạo chiếc hkmh  “made in China”.

    Varyag là chiếc hkmh do Liên Xô khởi công đóng vào tháng 12/1985. Đến tháng 12/1988, con tàu được hạ thủy với tên gọi Riga và tiếp tục được hoàn thiện. Năm 1990, tàu chính thức được đổi tên thành Varyag.

Sau khi Liên Xô tan rã, việc xây dựng Varyag mới hoàn tất được 60% và được chuyển giao cho Ucraina. Năm 1998, Trung công  đã mua lại Varyag với giá 20 triệu USD.

Varyag của Trung công  hiện được đổi tên thành Shi-lang, sau khi được sửa chữa có trọng tải khoảng 55.000 tấn (trọng tải của hkmh  George Washington mà Mỹ bố trí tại Thái Bình Dương có trọng tải 100.000 tấn). Theo tiêu chuẩn thiết kế, trọng tải của Varyag là 67.500 tấn. Varyag dài 300m, rộng 73m và cao 11m.

   Tốc độ thiết kế của Varyag là 32 hải lý/giờ (59km/h) với khả năng hoạt động độc lập 45 ngày trong phạm vi trên 7.000km. Thủy thủ đoàn đầy đủ của Varyag là 1.960 người.

Dự kiến, Trung cộng  sẽ trang bị cho Varyag loại hoả tiển  phòng không tầm xa HQ-9 và YJ-91. Máy bay trên boong sẽ là loại Shenyang J-15 do Trung cộng  tự sản xuất. Sau khi đưa vào hoạt động, Varyag có khả năng mang 26 máy bay chiến đấu và 24 trực thăng.

Các nguồn tin quân sự cho biết Trung cộng đã mua loại máy bay Su-33 của Nga và đã chế tạo loại J-11 chuyên trang bị cho hàng không mẫu hạm.

Dưới đây là những hình ảnh của Varyag hay còn gọi là Shi-lang:


Varyag đang được Trung Quốc kéo về cảng Đại Liên

TỔNG HỢP



Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Jeudi 20 janvier 2011 4 20 /01 /Jan /2011 16:23

     Tôi sinh ra dưới một mái chùa. Nghe kể rằng sư phụ tôi khi ấy còn trẻ,
một hôm đi ngang bỗng động tâm hỏi: "Mô Phật, sao sau chùa lại phơi tã
lót?". Nghe chuyện đời cha tôi, thầy bảo: "Hãy nhớ ngày này. Nếu có cơ
duyên, mười năm sau ta sẽ trở lại". Trở về thầy bỏ tăng viện, lên một
ngọn núi hẻo lánh trong rú xa, dựng mấy nếp nhà cổ. Từ ấy, thầy ẩn tu,
hiếm khi xuống núi.

     Lớn lên, tôi giống cha như đúc và rất được mẹ yêu chiều. Cha tôi mắt
sáng, mũi cao, tiếng nói trầm ấm, tính tình hiền hòa trung thực. Khi
còn là một chú tiểu đầu để chỏm, người đã nổi tiếng thông minh, mười
lăm tuổi chép rành kinh chữ Hán. Rồi vì học giỏi, được cử làm giáo sư
ở trường Trung học Bồ Ðề, một trường phổ thông tư thục của Giáo hội.
Lúc người sắp được phong Ðại Ðức thì gặp cô bé nữ sinh tinh nghịch, có
đôi mắt hút hồn, đôi môi đầy đam mê và cái tính thích gì thì làm cho
bằng được. Ban đầu, cô bé chỉ định quấy phá chơi để thử bản lĩnh của
thầy. Nhưng rồi tình yêu là lửa, chính người muốn đốt lại cháy. Cả
chùa ngẩn ngơ khi người thanh niên đạo hạnh vòng tay thưa trước sư cụ
trụ trì: "Yến bệnh nặng đã bốn tháng rồi, sợ rằng cô ấy chết. Thầy dạy
con tu hành để cứu chúng sinh. Nay con có thể cứu một sinh linh, sao
lại khước từ". Cha tôi rời chùa, cô Yến khỏi bệnh rồi hai người thành
vợ thành chồng. Ông bà tôi để lại một ngôi nhà, cha tôi cho dỡ đi, xây
vào chỗ đó một ngôi chùa tư. Ðã không bỏ đời theo đạo được, thì ông
đem đạo về giữa đời. Sau khi đã có con, ông vẫn ăn chay, mặc áo nâu và
tụng kinh sớm chiều. Có lần mẹ tôi đi chợ mua một xâu ếch, những con
ếch theo phản xạ cứ chắp hai chân trước vái lia lịa. Một bà đi ngang
bảo mẹ tôi: "Mấy con ếch lạy khéo không thua thầy M.H". Rồi bà cười hả
hả: "Ði tu mà chẳng chót đời, làm thân con ếch cho người lột da". Tính
mẹ tôi mau nước mắt, cứ vừa đi vừa khóc thút thít cho đến lúc tới nhà.
     Tối đó bà kèo nhèo mãi, năn nỉ mãi cha tôi tội gì không để tóc, ngả
mặn, làm người trần cho sướng cái thân. Tu kiểu này, người ta nói
không chịu nổi. Cha tôi chỉ cười, dường như chẳng để tâm. Cả đời người
không tranh giành với ai mà như có phép thần thông, chạm vào đâu thì
phất lên đến đó. Cơ sở làm hương trầm của người càng phát triển, mẹ
tôi càng béo đẹp ra thì lời đàm tiếu của thiên hạ càng rần rần. Cuối
cùng, chẳng hiểu vì sao, mẹ bỗng đột ngột bỏ đi mất tăm...

Cô ruột tôi giận lắm bảo: "Mẹ mi là con yêu tinh, khi trước đã phá đời
tu của cha mi, chừ lại phá luôn đời tục của ổng". Ai cũng khuyên đăng
báo tìm nhưng cha tôi chỉ nói: "Ðừng". Ông không trách móc gì, nhưng
có lẽ ông buồn, tiếng tụng kinh đêm khuya nghe chừng khắc khoải. Chao
ôi, với những con thuyền khắc khoải ấy, kiếp nào cha mới đến Tây
Phương?

     Cơ sở làm hương từ đó phó mặc cho cô tôi. Cô tôi cho chặt cây, nhổ cỏ,
sửa sang lại cho khu vườn sáng sủa: "Thiệt là hư sự, ai đời lập chùa
mà lại trồng hoàng lan trong sân. Mùi hoàng lan là mùi ma, hèn chi ma
chướng nó phá cho như thế ni".

Tôi dân dấn nước mắt nhìn người ta chặt cây hoàng lan, cành lá vứt bừa
bãi trên mặt đất. Ngày xưa, gội đầu xong mẹ tôi thường hái hoa giấu
vào bối tóc cho thơm. Bây giờ người đã đi, hoa cũng không còn...

Năm tôi mười tuổi, có vị Ðại Ðức trên núi về thuyết pháp ở chùa Diệu
Dế. Tôi đi theo cô tôi đến nghe. Khi trở về tôi xin xuất gia. Cha tôi
bảo: "Kinh sách ở đây, chuông mõ ở đây, con còn đi đâu?". Tôi chỉ lắc
đầu...

     Nơi thầy tôi ẩn tu là Bích Vân am - am Mây Biếc. Mười năm khai sơn,
thầy đã cùng đồ đệ trồng hơn hai chục mẫu bạch đàn và ba ngàn giò
phong lan đủ loại. Các sư huynh dạy tôi chăm hoa, tưới cây mỗi sáng.
Buổi chiều đi học ở trường Nam Giao. Năm mười lăm tuổi, tôi bắt đầu
chướng tính. Sư huynh hạch tôi: "Bạch thầy, Ðăng Ninh trốn học, la cà
ở quán cà-phê Tím. Người quanh đó ai cũng chê cười, họ nói cô ruột
Ninh làm hương giàu có, cúng dường nhiều tiền nên thầy thả cho Ninh
tha hồ tự tung tự tác". Tôi ức, lầm lì không nói, thầy cũng không quở.
Tính thầy rất nghiêm, không mấy khi la rầy mà đồ đệ ai nấy tuân lời
răm rắp. Chỉ riêng với tôi, không hiểu sao thầy đặc biệt khoan thứ. Sợ
thầy phạt, đợi lúc sắp vào tụng kinh, tôi biện bạch: "Bạch thầy, ngày
xưa cha con thường bảo: tu trên núi dễ, tu giữa chợ mới là khó. Không
ở giữa đời làm sao hiểu đời đục mà tránh?". Thầy hỏi: "Ai bảo con là
đời đục? Ðời không đục, không trong". Tôi hụt hẫng, không hiểu ý thầy
định nói gì?

      Tu trên non bây giờ thật ra cũng không phải dễ. Thầy tôi tránh đời vào
núi sâu, nhưng rồi vườn lan Mây Biếc nổi tiếng quá nên người trần lại
kéo lên thưởng ngoạn. Thứ bảy, chủ nhật, học trò đạp xe lác đác trắng
trên con đường mòn tới thảo am. Mấy cô nữ sinh nhỏ tuổi mê hoa ngẩn
ngơ ngắm bông súng tím trong hồ, chạy vào đến tận hiên, chỗ thầy ngồi
viết sách. Thầy không quở, cũng không ngẩng lên nhìn. Một cô bé chạy
đến gần tôi, nhìn làn sương li ti mà tôi đang xịt lên những chồi đang
đơm nụ. Cô hỏi tôi tên hoa, tôi giảng: "Ðây là giống Tiểu Hồ điệp,
nghĩa là bươm bướm nhỏ. Em thấy không, trông xa chấp chới như đàn bướm
cải mầu vàng". Cô chìa hai bàn tay với những ngón búp măng, hứng
sương. Tôi cau mày: "Này, đừng nghịch". Cô bé cứ đùa với những bụi
nước, chẳng để ý lời tôi. "Anh cứ tưới đi, em cũng là Lan". Tôi cáu,
xịt cho nước rơi ướt cả tóc, cả áo cô bé. Mấy cô bạn cười rúc rích,
khi về có cô còn nói vọng lại: "Con Lan hên quá, gặp chú tiểu vừa đẹp
trai, vừa quậy". Tôi tủm tỉm cười. Sư huynh tôi cáu kỉnh: "Mấy con Thị
Mầu đời nay quá quắt lắm. Bay không biết quyến rũ sư tăng là tội đọa
địa ngục hử?". Tôi cự: "Người ta chỉ đùa thế, có gì mà gọi là quyến
rũ".

       Từ đó, vài ba hôm một lần, Lan lại đến giúp tôi tưới hoa. Tôi dạy cho
cô biết về phong lan, đấy là cả một thế giới còn đa dạng hơn thế giới
người. Phượng Vĩ đỏ rực, Tuyết Ðiểm thì trắng, Vũ Nữ thì như đang múa
trước gió. Lan phụng phịu: "Hoa nào cũng có tên riêng, chỉ em không
có". Tôi nhìn khuôn mặt cô, đôi mắt trong trẻo với cái miệng cười hồn
nhiên như trẻ thơ. "Vậy tôi đặt cho cô một cái tên. Tên cô là Tinh
Khôi".

      Thầy biết tình thân giữa tôi và Lan. Sư huynh không vui lòng, thầy chỉ
bảo: "Không can gì". "Bạch thầy, người này có bạn thì người kia có
bạn, rồi con gái kéo đến đầy thảo am, còn cái thể thống gì nữa?". Thầy
gật đầu. Chiều lại, tôi mài mực hầu thầy, thầy đem cho tôi xem bộ
tranh mười bức vẽ mục đồng chăn trâu: "Ðây là thập mục ngưu đồ, cũng
là quá trình tu học của một con người. Trâu không là trâu, mà chính là
cái tâm ta đó". Tôi động lòng, hỏi: "Bạch thầy, con xem bức vẽ cuối
cùng, không còn trâu chẳng còn người, chỉ còn trăng soi. Vậy cớ gì
phải sống trong dây trói. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng Sĩ là bậc ngộ đạo
mà không kiêng rượu thịt, vì chay mặn chỉ là hình tướng bên ngoài,
không can hệ đến sự giác ngộ bên trong". Thầy cười: "Ðúng, con ạ, với
bậc đắc đạo là thế. Nhưng khi ta còn là một người phàm, thì cũng như
con trâu kia, phải có sợi dây buộc, có người chăn dắt. Ðến khi cái tâm
vững rồi, sáng rồi mới có thể như trâu đen thành trâu trắng, không
ràng không buộc, chẳng những nhởn nhơ trên cỏ xanh mà còn bay lên đến
chín tầng mây". Tôi vái thầy mà thưa: "Con hiểu rồi, nhưng nhà chùa
chẳng thể xua đuổi ai. Từ mai con xin thôi không giữ vườn lan nữa".

Mấy hôm sau, Lan thấy sư huynh ra tưới vườn, còn tôi thì chẻ củi. "Anh
không thích phong lan nữa sao?". "Không. Muôn hồng nghìn tía, chẳng
qua cũng chỉ để nhìn trong chốc lát. Một đời tôi chỉ riêng nhớ hoa
hoàng lan". Tôi giảng cho cô bé biết hoa hoàng lan cánh mảnh mai, vàng
như mầu chim hoàng yến. Thuở trước, cứ sắp rằm, mồng một, các bà hàng
hoa lại đến mua, họ gói hoa trong lá chuối, từng gói nhỏ xinh xinh tỏa
thơm ngây ngất. Lan bảo: "Thích ghê, em chưa thấy bao giờ". Ừ, loài
cây ấy có lẽ giờ đây đã tiệt giống rồi hay sao, nhiều lần theo sư
huynh đi chợ mua bông chuối, tôi để ý tìm mà không thấy nữa. Tôi lớn
lên lòng bâng khuâng như thiếu vắng một thứ gì, cứ mơ hồ nhớ nhớ,
thương thương...

      Cuối năm, anh em tôi kẻ kéo, người đẩy, chở phong lan xuống phố đổi
gạo. Ông chủ tịch hội hoa cảnh hài lòng lắm khi thấy những giò mũm mĩm
với chồi xanh đầy nụ. Ba bao gạo lớn được bưng ra. "Cha ơi, con có làm
một ít bánh trái cây để cúng dường". Tôi nghe tiếng quay lại, sững
người vì thấy Lan. Ông chủ tịch âu yếm bảo: "Cúng dường thì phải cung
kính. Con phải tự lên chùa lạy Phật mà dâng". Tôi hãi hồn, vội nói:
"Thôi thôi, khỏi phiền nữ thí chủ. Nhận ngay ở đây". Lan bật cười, lại
cái cười tinh khôi. Rồi Lan nhìn tôi buồn thiu: "Sao lâu nay anh không
ra vườn? Em lên chùa, biết anh trong bếp mà mấy chú không cho vào.
Riết rồi em buồn không muốn đến nữa".

Mấy buổi sau, tôi theo các bạn cùng lớp vào quán. Lan ngồi ở đó, sau
chiếc bàn con bên cửa sổ. Các bạn tôi ai cũng nhìn về phía Lan còn cô
bé chẳng nhìn ai, cứ lặng lẽ một mình. Ngồi ở một bàn xa mà tôi như
thấy cả bầu trời hoàng hôn tím, tím ngát ngoài kia đang in trong đôi
mắt Lan. Mãi đến khi chúng tôi ra về, Lan mới ngoái nhìn, ánh mắt thơ
ngây mà não nùng. Bỗng dưng đỏ mặt, rồi tôi thấy hoảng sợ vì mình đã
đỏ mặt...

       Một người con gái chiều nào cũng ngồi ở quán Tím, chẳng bao lâu đã
thành đề tài để bọn con trai bàn tán.
"Con Lan sữa tươi trông xinh vậy chứ nó mắc bệnh, bệnh sợ đàn ông.
Ðếch thằng nào đến gần được, nó tránh như tránh tà". "Không phải đâu,
nó giữ giá để chờ lấy Việt kiều, thằng Hùng ở Cali về ngày nào cũng
trực ở nhà nó". "Giữ giá cái gì, nó ưa thằng Quắn chạy bàn ở cà-phê
Tím. Tao thấy nó ngồi một bàn với thằng Quắn, khóc rưng rức". Tôi im
lặng, một lát sau mới bảo: "Khó tin". "Ở đời chuyện gì mà chẳng có thể
xảy ra" Bạn tôi nói, vẻ ông cụ non - Chiều qua chính mắt tao thấy nó
chạy ra sau quầy đưa bức thư cho thằng Quắn".

Ðạp xe về đã đến quá lăng Tự Ðức, tự nhiên tôi bứt rứt không chịu
được. Tôi quay xe, đạp về nhà Lan. Mưa phùn lướt thướt trên con đường
về Bao Vinh xa tắp. Mẹ Lan hỏi: "Nhà chùa có việc gì mà nhắn cháu lên?
Thấy Quắn về nhắn, tôi cho cháu đi ngay rồi". Tôi tái mặt, không kịp
chào, đạp xe đi như tên bắn. Tim tôi dội thình thịch vì âm vang những
lời của sư huynh khi Lan mới lên thảo am lần đầu: "Cô gái này đẹp đẽ
thanh tú nhưng đuôi mắt dài quá, môi mỏng, cổ cao, tai nhỏ. Ðấy là
tướng hồng nhan mệnh yểu..." Trời nhập nhoạng tối, tới Nam Giao. Nhìn
dáo dác hai bên đường, tình cờ thấy Quắn và Lan cùng ngồi trong quán
ốc. Quắn gọi rượu, đang ép Lan uống. Lan lắc đầu. Quắn cố nài. Tôi đi
vào, đấm mạnh vào mũi Quắn. "Ðồ lừa đảo. Từ nay chừa cái thói dỗ gái
đi". Quay sang Lan, tôi nạt "Ði về!". Không biết Lan có bị một thứ
thuốc mê gì không, mặt ngây ngây như bị bỏ bùa. Tôi chở Lan đi. Quắn
biết tôi có võ Thiếu lâm nên đành chịu phép, hậm hực, chùi máu mũi
nhìn theo, cái nhìn của con thú mất mồi...

        Trên đường về, Lan tỉnh lại, gục mặt vào lưng tôi khóc: "Em nhờ Quắn
chuyển đến anh nhiều thư, anh có nhận được không?". Tôi cau mặt: "Em
khờ lắm, sao lại đi với thằng Quắn?". "Quắn bảo em uống vài chén cho
ấm rồi lên đàn Nam Giao chờ Ninh đến". "Em đừng quên, tên em là Tinh
Khôi. Ðừng dại dột để bọn lưu manh làm nhơ bẩn". Nước mắt Lan chảy
thấm qua chiếc áo lam của tôi, thấm vào đến da thịt. Dừng xe, tôi ngồi
xuống vệ cỏ bên đường. Lan ngồi bên tôi. "Ðêm nào cũng nằm mơ thấy anh
dắt em đi thăm vườn phong lan. Mình về trồng lan trong sân nhà em đi,
có thích hơn không?". Tôi không trả lời, ngắt những cọng cỏ, vò nát
trong đôi tay run run. Trên kia, trăng sáng quá, tròn và rực rỡ như
chiếc mâm vàng giữa trời. Bỗng nhiên lòng tôi miên man nhớ những câu
chuyện cha tôi vẫn kể ngày xưa... "Em có thích nghe chuyện cổ tích
không?". "Thích". Tôi kể cho Lan nghe chuyện người tử tù đội chiếc mâm
vàng đầy nước đi từ cổng hoàng cung vào trước ngai vua mà không sánh
ra ngoài một giọt, Lan nghi ngờ: "Sao có người làm được như thế?". Tôi
gật đầu: "Ngày ấy, nhà vua cũng đã hỏi như vậy. Vị thiền sư trả lời:
"Bệ hạ đã hứa nếu y làm được thì sẽ tha tội chết. Vì lẽ sống chết của
y, nên dù việc khó vô cùng mà y vẫn chăm chăm làm bằng được. Nay nếu
bệ hạ cầu giải thoát cũng như người này cầu sống, thì việc tu hành dù
khó mấy cũng có thể vượt qua". Lan ngước nhìn tôi, lần đầu tiên tôi
nhận ra trong hai cái giếng êm như nhung của mắt cô bé những tia sáng
ương ngạnh lạnh lùng. "Em hiểu rồi. Anh xem tu hành là chuyện sinh tử
của anh. Vậy nếu em lại xem anh là chuyện sinh tử của em thì sao? Anh
và em, ai đi trọn đường, ai bỏ cuộc?". Tôi bảo: "Em nói gì thế? Chuyện
sống chết mà nghe cứ như là trò chơi sấp ngửa của trẻ con". Lan
cười... Bàn tay nhỏ nắm lấy tay tôi, ngón thon vuôn vuốt như cánh hoa
ngậm sữa. Vẻ đẹp này có phải phù du? Vẻ đẹp này là sắc hay là không?
Chỉ thấy ngợp vì trăng. Trăng sáng quá. "Thôi, về đi em". Tôi đạp xe,
trước mặt tôi chập chờn lấp lóa những con đường. Những mê lộ giữa đạo
và đời, giữa ma và Phật...

       Việc lộn xộn ở quán ốc chẳng mấy ngày đã đồn đến chùa. Cô tôi biết,
tốc lên ngay. Tôi bảo: "Cô đừng lo. Chẳng có chuyện gì đâu". "Không có
lửa, sao có khói, ăn ốc, đánh lộn, giành gái. Thế còn gì là tu hành?
Tau mà gặp con ma nữ đó, tau tước từ dưới tước lên". Tôi ngẩn người
một lúc rồi hiểu ra, không nín được cười. Cô bực tức: "Cháu tưởng
chuyện gì cũng cười là xong sao?"

Quả là chuyện không thể cười mà xong. Mấy hôm sau, gia đình Lan mời tôi về.

       "Con ma nữ" đã uống hai mươi viên thuốc ngủ, may sao nhà biết được chở
đi cấp cứu. Mẹ Lan chắp tay lạy tôi như lạy Bồ Tát: "Bác biết tính con
Lan lắm, từ nhỏ nó đã nói là làm, đã làm là làm tới cùng. Sợ e cứu
thoát lần này, nó lại tự sát lần nữa. Con cứu nó cho bác đi con". Tôi
cuống quýt: "Bác bảo con làm sao được?". Con cứ giả vờ ừ đi, bây giờ
nó mới lớn, tính còn ngông cuồng, vài ba năm nữa chững chạc rồi tự
nhiên nó hiểu ra". Ông chủ tịch hội hoa cảnh mắt đỏ au, nhìn tôi chờ
đợi một lúc rồi bảo vợ. "Nói như bà cũng khó. Chú Ninh đây tướng mạo
khôi ngô, trước sau rồi sẽ có phước được che lọng vàng. Lẽ nào vì con
mình mà để người ta mang tai mang tiếng". Tôi thở dài: "Cháu đi tu
không phải là mong lọng vàng che đầu. Chỉ vì nguyện giữ thân trong
sạch để tụng cho mẹ cháu một nghìn lần kinh Thủy Sám". Nhớ tới mẹ, tôi
bất giác đau đớn trong lòng, đứng dậy đi...

Tôi về chùa, từ ấy không đi đâu. Thầy bảo: "Sao con bỏ học?". Tôi nói:
"Suối ở xa, con muốn ra triền núi đào giếng". Tôi tự đày mình trong
những nhát cuốc trên sỏi đá, đêm về tụng kinh, vẫn đôi khi chợt nghe
tiếng mình khắc khoải. Có lúc nửa đêm chợt tỉnh, thấy thầy ngồi bên
giường, lâm râm niệm chú. Tôi hốt hoảng vùng dậy: "Bạch thầy". Thầy
tôi bảo: "Con giật mình, nói mê luôn, hất tung cả chăn". Tôi nói: "Con
tỉnh rồi. Rước thầy đi nghỉ, con xin ra bệ Phật niệm Cầu An". Thầy
lặng lẽ một lúc, rồi bảo tôi: "Tâm không an, có cầu cũng vô ích". Tôi
gật đầu thú nhận. Bao nhiêu đêm, cứ chợp mắt là thấy Lan hiện ra, mảnh
dẻ, thanh thoát, đầu đội chiếc mâm vàng sóng sánh nước đi thẳng đến bờ
vực. Tôi nghe tiếng thét của nàng vang động cả giấc mơ, nàng nhào
xuống rơi thẳng vào không gian mênh mông như chiếc lá lìa cành trước
gió. "Thầy ơi, nếu vào Niết bàn mà phải đạp lên một chiếc lá, Phật có
làm không? Xin thầy cho con hay, trời đất nặng hơn hay chiếc lá nặng
hơn?". Thầy nhìn vào mắt tôi: "Chỉ có con tự trả lời được thôi. Ngày
mai con hãy về, cứ nhìn thẳng vào nghiệp duyên mà tự quyết định lòng
mình". Tôi lắc đầu: "Thầy quên sao? Con đã thề khi nào đào xong giếng
mới xuống núi".

Ra xuân, đường lên núi khô ráo. Hai tay tôi ướt bùn đỏ, những giọt
nước đầu tiên đã ứa ra từ lòng đất sâu. Tôi chạy về chùa, định vào
trình thầy nhưng người đang làm lễ. Có người thí chủ dâng hương trong
bệ Phật, mùi trầm mới thơm thơm trong không gian.

Ðang dội nước rửa tay, tôi nghe có người bước đến. "Chú Ninh!".

Tôi ngẩng lên. Mẹ của Lan. "Bác lên chùa cầu cho em đi bình an. Có cái
này, em nó gửi lại...". Bà đưa cho tôi một cái túi nhỏ, rồi vừa quay
đi vừa đưa khăn lau mắt.

Những dòng chữ trong thư, mảnh mai và run run như những cánh lan.

"Bốn trăm ngày chờ anh ở quán Tím, cuối cùng em cũng hiểu ra là mình
thua cuộc. Ðã đi mà chẳng tới, lẽ ra thì phải chết. Nhưng em chết thì
anh làm sao yên lòng đi trọn con đường tu. Vì vậy, em đã quyết định
lấy chồng xa xứ. Trong cái túi này là cây hoàng lan con, em nguyện tìm
cho anh bằng được rồi mới ra đi. Em vẫn nhớ lời anh nói, một đời anh
chỉ thích hoàng lan...

Người ta cứ bảo là em khôn, lấy ông Việt kiều đi Tây đi Mỹ cho sướng
chứ theo chi chú tiểu trọc đầu. Nhưng đi Tây đi Mỹ không phải là chí
nguyện của em. Lấy một người mình không thương, đến một nơi xa lạ với
em còn khổ hơn là chết. Xin anh hãy tụng cho em một lần kinh cầu siêu
thoát, một lần thôi...".

Bất giác, tôi òa khóc. Nước mắt theo nhau lăn trên má tôi như ép cho
hết những dòng tục lụy cuối cùng. "Cứ khóc đi con" - Thầy vỗ về khi
thấy tôi luống cuống che mặt - Thầy chưa nghe nói gỗ đá thành Phật bao
giờ". Tôi nức nở: "Bạch thầy, thầy có cho con trồng cây hoàng lan
không?"

Thầy bảo: "Cỏ cây vô tội, sao mình không thể bao dung?". Rồi một tay
dắt tôi, một tay cầm túi cây đến bên góc vườn, thầy tự mình trồng
xuống.

Tôi tưới cây bằng nước giếng chùa. Hoàng lan lớn lên, năm này qua năm
khác, nở hoa vàng mong manh. Mong manh như tất cả những gì đẹp trên
thế gian.

Tôi cầm lòng thôi thương, thôi nhớ.

 

Trần Thùy Mai

 

Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Lundi 8 novembre 2010 1 08 /11 /Nov /2010 12:03

BLOG TÔN THẤT PHÚ SĨ

PARIS 29-08-2010 

 

 

 

 

 

bonjour

 

 

 PARIS VÀ NHỮNG VẦN THƠ

 

 

 
ĐÊM GIÃ TỪ - THANH THÚY
Par KIM THÀNH
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Créer un blog gratuit sur over-blog.com - Contact - C.G.U. - Rémunération en droits d'auteur - Signaler un abus